(HBĐT) - Nhắc đến những đặc trưng trong văn hóa ẩm thực người Mường, người ta vẫn thường nói: “Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui…” nhưng ít ai nghe câu: “Rạo thiêu, cá náng (nướng), tháng rộng, ngày dài”. ý nói, rượu “thiêu” ngon, thức nhắm ngon mà tháng thì rộng, ngày còn dài lắm, ý chủ nhà muốn níu chân khách quý. Rượu thiêu (rượu đồ) là loại rượu đặc biệt từ mùi vị, hương thơm, cách làm cho đến cách thưởng thức và cách sử dụng...

 

Đối với người Mường xưa, việc “thiêu” rượu chủ yếu là để dùng khi có việc hệ trọng, có khách quý, đặt bàn thờ cúng ông bà tổ tiên… nên nhà ai cũng có đồ chưng cất riêng gọi là đồ “thiêu rạo” (đồ chưng cất rượu) bao gồm: viếng bằng đồng, cuốp bằng gỗ (thường là thân cây cọ khoét rỗng chiều dài khoảng 45 – 50 cm, đường kính khoảng 30 – 35 cm), chậu đựng nước, máng (bằng thân cọ hay cây bương) và ống tre dẫn rượu.

 

Người Mường thường chưng cất hai loại rượu: rượu ngô và rượu sắn. Các nguyên liệu gồm: vỏ trấu, men lá hoặc men trái, sắn khô thái lát hoặc giã thành từng viên nhỏ bằng đầu ngón tay (nếu làm rượu sắn), ngô khô giã nhỏ (nếu làm rượu ngô). Vỏ trấu, ngô (sắn) được rửa qua nước, trộn đều với nhau đồ chín rồi đổ ra mủng chờ nguội mới rắc men. Sau đó phủ lá chuối khô lên trên, ủ khoảng 4 - 5 ngày. Quá trình ủ men này sẽ tạo cho hỗn hợp lên men có hương thơm rất đặc trưng, hấp dẫn. Khi đó có thể đem “thiêu” (chưng cất).

 

Quá trình chưng cất rượu cũng đòi hỏi sự cẩn thận và khéo léo. Khi nước viếng đã sôi, hỗn hợp nguyên liệu được cho vào cuốp và bắc lên miệng viếng, đặt máng trong cuốp nối với ống tre dẫn rượu. Chậu nước được đặt nghiêng trên miệng cuốp để đảm bảo hơi rượu ngưng tụ và chảy xuống máng, qua ống tre dẫn rồi chảy ra bình chứa thành phẩm. Người ta phải dùng vải ướt chèn vào giữa viếng, cuốp và chậu nước để tránh thoát hơi rượu ra ngoài.

 

Chất lượng rượu (hương thơm, mùi vị, màu…) phụ thuộc vào chất lượng nguyên liệu, loại men, quá trình ủ men và quan trọng nhất vẫn là công đoạn “thiêu” rượu. Làm sao để hương thơm của nguyên liệu do quá trình lên men vẫn giữ được trong sản phẩm. Trong khi “thiêu” rượu, người “thiêu” luôn phải canh lửa thật đều,  thay nước trong chậu khi nước đã nóng để đảm bảo hơi rượu bốc lên và ngưng tụ liên tục, cho ra những giọt rượu thơm ngon.

 

Do nguyên liệu sạch, an toàn, lên men tự nhiên và cách chưng cất theo kiểu đồ (hỗn hợp nguyên liệu không trộn với nước), bốc hơi, ngưng tụ nên cho thành phẩm nguyên chất. Rượu “thiêu” có mùi thơm, vị thanh, cảm giác rượu có độ mạnh nhưng uống êm, không rát cổ họng, có cảm giác say nhưng không đau đầu, chóng mặt. Cái hay của uống rượu “thiêu” là ở chỗ, mỗi lần nâng chén chỉ nhấp một ngụm nhỏ, thưởng thức mùi thơm, vị nồng của rượu như uống cái tình, cái nghĩa giữa chủ và khách vậy. Vì thế, mỗi cuốp chỉ lấy thành phẩm từ 1 - 1,5 chai 650 ml.

 

Đặc biệt, rượu “thiêu” đem ngâm thuốc rất tốt. Những bài thuốc được ngâm với rượu “thiêu” có những tác dụng chữa một số loại bệnh hiệu nghiệm. Ví dụ như cây mâm xôi, rễ khôi, rễ buộm, rễ ngấy trên rừng ngâm rượu “thiêu” chữa bệnh tiêu chảy, đau lưng, đau khớp, đau thận ở trung niên và người già; mật ong, nghệ đen, nghệ, sâm,… giã nhỏ ngâm rượu “thiêu” có tác dụng bổ gan, thận, thanh nhiệt, giải độc. Mỗi ngày uống một vài ngụm vào buổi sáng sẽ giúp tinh thần sảng khoái, giảm các loại bệnh thường gặp như cảm cúm, mệt mỏi, nhức đầu… Rượu “thiêu” đem ngâm với rễ quèo, tan bó ngựa, tan me, lá tinh, lá sên làm thuốc bôi ngoài da, bôi khi bong gân, khử độc khi bị rắn, rết, côn trùng cắn…rất hiệu quả

 

Giờ đây, nền kinh tế thị trường phát triển, có nhiều dụng cụ hiện đại và cách làm rượu cho ra nhiều thành phẩm hơn nên việc chưng cất rượu theo cách truyền thống này ít được sử dụng. Tuy nhiên, nhiều gia đình vẫn có thói quen làm rượu theo kiểu truyền thống để thể hiện sự kính trọng đối với ông bà, tổ tiên, sự hiếu khách và như để lưu giữ một thức uống đậm đà bản sắc dân tộc.

 

 

                                                                               Bùi Đức Thắng

                                                                         (Báo văn nghệ Hòa Bình)

Các tin khác


Văn hóa Hòa Bình tại tỉnh Hòa Bình

(HBĐT) - Tại tỉnh Hòa Bình, các di tích khảo cổ Văn hóa Hòa Bình phân bố ở hầu khắp các huyện, thành phố. Theo số liệu thống kê của Viện Khảo cổ học Việt Nam năm 1989, tỉnh Hòa Bình có 69 địa điểm di tích Văn hóa Hòa Bình. Các di tích đều nằm trong các hang động và mái đá cao ráo quanh các thung lũng, có hệ sinh thái phổ tạp thuận lợi cho việc săn bắt và hái lượm. Đặc biệt rất sẵn nguyên liệu cuội để chế tác công cụ lấy từ các sông, suối chảy qua lòng thung lũng.

Đưa Mo Mường trở thành di sản văn hóa phi vật thể

(HBĐT) - Người Mường sử dụng mo để thực hành các nghi lễ phổ biến trong đời sống. Có 23 nghi lễ sử dụng mo, chia thành 4 nhóm chính. Đó là nhóm nghi lễ cầu phúc, cầu lộc, nghi lễ gọi linh hồn con người; nghi lễ trừ tà ma, cầu yên, cầu sức và nghi lễ đặc biệt là tang lễ. Như vậy, Mo gắn với cuộc đời một con người ngay từ khi sinh ra trong lễ mụ sinh, lễ vía; cho đến khi dựng vợ, gả chồng là lễ cưới; cầu yên, cầu sức trong lễ cúng ma nhà, ma rừng cho đến khi nằm xuống.

85 Năm vinh danh toàn cầu “Văn hóa Hòa Bình”

(HBĐT) - Vào khoảng những năm 20 - 30 của thế kỷ XX, công cuộc khai thác thuộc địa đã tạo điều kiện cho các nhà địa chất, khảo cổ Pháp phát hiện hàng loạt di tích tiền sử, trong đó tiêu biểu nhất là Văn hóa Hòa Bình gắn với tên tuổi nữ tiến sĩ khảo cổ học Madelain Colani.

Nghệ thuật quần chúng góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc

(HBĐT) - Huyện vùng cao Mai Châu có bề dày truyền thống văn hóa lâu đời với 2 dân tộc Thái, Mông chiếm đa số. Trong công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, các cấp ủy Đảng, chính quyền trên địa bàn đã tập trung chỉ đạo, đa dạng hóa hoạt động văn hóa, văn nghệ, góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân.

Bảo tồn và phát huy giá trị nền Văn hóa Hòa Bình, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh

  Bùi Văn Tỉnh
Ủy viên BCH T.Ư Đảng, Bí thư Tỉnh ủy
(HBĐT) - Hòa Bình là tỉnh miền núi, cửa ngõ vùng Tây Bắc, có vị trí địa lý quan trọng, là vùng đệm trung gian tiếp nối giữa đồng bằng châu thổ Bắc Bộ với vùng Tây Bắc của Tổ quốc; có diện tích tự nhiên 4.610 km2, dân số trên 83 vạn người. Trên địa bàn tỉnh có các dân tộc Mường, Kinh, Tày, Thái, Dao, Mông, Hoa cùng chung sống lâu đời, đông nhất là dân tộc Mường chiếm 63,3%. Là vùng đất cổ với các dải núi đá vôi chạy dọc theo hướng đông nam, song song với dải Trường Sơn ở phía Tây đã tạo ra nhiều bồn địa, thung lũng với hệ động, thực vật phong phú, nên ngay từ thời tiền sử, con người đã sớm sinh tụ trên mảnh đất Hòa Bình để lại một nền văn hóa nổi tiếng "Văn hóa Hòa Bình”.

Hòa Bình - một trong những chiếc nôi phát triển của lịch sử loài người

 Bài 5:  Định hướng bảo tồn và phát huy giá trị  của Văn hóa Hòa Bình
 Nhiều nhà khảo cổ học có công phát hiện, nghiên cứu 
(HBĐT)-Nền Văn hóa Hòa Bình được các nhà khảo cổ học nghiên cứu từ rất sớm. Trong đó phải kể đến các nhà khoa học trong và ngoài nước có công trong việc phát hiện, nghiên cứu về Văn hóa Hòa Bình như: Madelaine Colani, tiến sĩ địa chất, người có công đầu trong việc phát hiện, nghiên cứu và đặt tên cho nền "Văn hóa Hòa Bình”; Mathew - người đầu tiên lấy Văn hóa Hòa Bình trong phạm vi toàn cầu làm đề tài luận văn tiến sĩ; Boriscopski, giáo sư, tiến sĩ, chuyên gia đá cũ người Nga, Đại học Tổng hợp Leningrad (Saint Peterburg) Liên Xô cũ đã tiến hành phúc tra một số hang mà M.Colani đã phát hiện và khai quật, đồng thời phụ trách khai quật hang Muối, hang Tằm…;