Thịt chua được ướp lâu năm thường săn lại, màu nhạt hơn, khi ăn có độ giòn của thịt mỡ, độ dai sần sật của bì và thịt nạc.

Thịt chua được ướp lâu năm thường săn lại, màu nhạt hơn, khi ăn có độ giòn của thịt mỡ, độ dai sần sật của bì và thịt nạc.

(HBĐT) - Thịt chua không chỉ được dùng làm món ăn trong mâm cỗ ngày rằm, ngày tết của người Dao Tiền mà họ còn dùng nó để tiếp đón khách quý, bởi họ coi đó là món ăn đặc biệt trong ẩm thực truyền thống của dân tộc mình.

 

Người Dao Tiền có rất nhiều món ăn truyền thống như mắm cá, mắm tép, thịt lợn gác bếp, thịt lợn nướng, lợn muối… Trong đó không thể không kể đến thịt lợn muối chua là món ăn truyền thống độc đáo của người dân tộc Dao Tiền. Món thịt muối chua có nhiều công thức chế biến khác nhau tùy khẩu vị của từng người.

 

Để làm thịt chua không khó nhưng mất rất nhiều thời gian. Nguyên liệu làm thịt chua khá đơn giản, chỉ có thịt lợn, muối tinh và cơm nguội. Muốn thịt muối chua, người Dao thường dùng thịt ba chỉ hoặc những phần thịt có cả nạc cả mỡ. Thịt đã chọn được cắt thành từng miếng, mỗi miếng khoảng 0,5kg, trên mỗi miếng, dùng dao sắc khía thành từng phần dày 2 - 3cm, tránh làm đứt phần bì.

 

Sau đó, đem thịt đã cắt ướp với thật nhiều muối, dùng tay chà xát thật mạnh cho muối ngấm sâu vào từng thớ thịt. Mỗi miếng thịt sau khi xát muối được trộn tiếp với một ít cơm nguội, để cơm thấm muối khi tan cho thịt bớt mặn, rồi đem xếp ngay ngắn vào chum, trên cùng chét thêm một lớp cơm nguội dày và dùng tay lèn thật chặt. Trên miệng chum người ta lót thêm một lớp rơm sạch, dùng lá dong bịt lại rồi lấy lạt buộc bên ngoài cho thật chặt.

 

Thịt chua được sử dụng trong đám cưới của người Dao. Trong đám cưới nhà trai phải mang sang nhà gái một lượng thịt khá lớn để làm sính lễ. Chỗ thịt ấy đã được tính trước để phân phát cho anh em, họ hàng của cô dâu, nhiều hay ít tùy thuộc vào mối quan hệ và vai vế đối với cô dâu, còn bố mẹ cô dâu sẽ nhận hai phần lớn nhất. Vậy nên, sau đám cưới, gia đình cô dâu phải đem ướp chua chỗ thịt ấy để bảo quản. Sau 2 - 3 năm, khi cô dâu chú rể đã thành vợ chồng, có đủ điều kiện tổ chức lễ cám ơn những người trước đây đã giúp gia đình nhà trai gánh lễ vật sang nhà gái thì bố mẹ cô dâu mới mở chỗ thịt chua ấy để tiếp đãi mọi người.

 

Sau mỗi đám cưới, nhà bố mẹ cô dâu sẽ có được ít nhất hai chum thịt chua như vậy. Mỗi chum thịt sau khi đã bịt chặt được úp ngược lên một chiếc bế đựng đầy tro bếp. Làm như vậy để trong quá trình thịt lên chua, mỡ và nước từ thịt sẽ chảy ngược xuống ngấm vào tro, như thế thịt sẽ không bị hỏng.

 

Thịt được ướp lâu năm thường săn lại, màu nhạt hơn, khi ăn có độ giòn của thịt mỡ, độ dai sần sật của bì và thịt nạc. Ăn một miếng thôi cũng đủ cảm nhận được hương vị lạ và đặc biệt của món thịt này. Với những người có kinh nghiệm làm thịt chua, khi ăn họ có thể biết được thịt này đã được ướp bao nhiêu lâu.

 

Thịt chua còn được dùng làm một món ăn cho mâm cỗ trong những ngày rằm, ngày tết trong năm. Người Dao còn dùng thịt chua để tiếp đón khách quý bởi họ coi đó là món ăn đặc biệt trong ẩm thực truyền thống của dân tộc mình.

 

Thịt lợn muối chua có đặc trưng là có vị chua, mềm mà không dai, không béo ngấy của thịt mỡ. Thay vào đó là vị đậm đà của thịt hòa cùng vị cay cay của riềng, vị thơm của lá cơm đỏ, trầu không, cơm nếp, đặc biệt là vị chua hòa lẫn vị mặn của muối đã tạo cho món ăn có hương vị thật độc đáo, khó quên. Thịt muối chua thường được ăn cùng rau sống. Ăn một lần thôi cũng khiến người ta nhớ mãi.

 

 

 

                                                                     HBĐT tổng hợp

 

 

Các tin khác

Không có hình ảnh
Nguyên liệu chế biến món xôi sắn.
Độc đáo cách ăn chua của người Thái Tây bắc.
Thịt trâu gác bếp có lẽ là món ăn được chế biến với ít công đoạn nhất nhưng hương vị của nó thì chắc chắn sẽ làm “ám ảnh” những du khách đã từng ghé chân qua nơi đây.

Văn hóa ẩm thực người Mông

(HBĐT) - Để đảm bảo thâm canh lúa nước ở vùng cao khắc nghiệt, từ xưa đồng bào Mông đã chú ý làm thủy lợi, tận dụng sức mạnh của thiên nhiên để duy trì sự sống của mình. Cùng với thời gian, ngày nay nếp sinh hoạt, ăn uống của người Mông vùng cao cũng có nhiều thay đổi, tuy rằng các sản vật trong đời sống hàng ngày đều lấy từ thiên nhiên hoặc do chính bàn tay lao động làm ra nhưng cách thức chế biến và ăn uống đã khác, mang tính cầu kỳ hơn.

Hương vị ẩm thực Tây Bắc

(HBĐT) - Ai đã từng đặt chân đến vùng Tây Bắc xa xôi của tổ quốc khi ra về chắc chắn sẽ không thể quên mang theo những hình ảnh, ấn tượng tốt đẹp về miền đất núi non trùng điệp này. Đến nơi đây bạn không chỉ được ngắm nhìn vẻ hùng vĩ mà còn được khám phá vẻ hoang sơ của núi rừng hay cảm nhận sự hiếu khách của những con người mộc mạc, chân thành của các dân tộc bản xứ.

Nộm rau dớn và canh lá đắng món ăn của người Tây Bắc

(HBĐT) - Đến với vùng Tây Bắc mà chưa từng thưởng thức món nộm rau dớn và canh lá đắng của dân tộc Thái thì chưa được xem là đã lên Tây Bắc.

Bánh láo khoải đón Tết của người Mông 

(HBĐT) - Đã thành truyền thống, Tết của người Mông không thể thiếu ba món là rượu, thịt và bánh ngô. Bếp của người Mông luôn đỏ lửa trong ngày Tết, lễ cúng giao thừa trong đêm 30 không thể thiếu con lợn sống hoặc con gà sống.

Triết lý nhân sinh qua các món ăn của người Thái Tây Bắc

(HBĐT) - Nói đến Tây Bắc là phải nói tới huyền thoại hoa ban, những điệu xòe nồng say, những điệu khắp trữ tình và thiên truyện thơ: “Tiễn dặn người yêu” nổi tiếng. Song không chỉ có thế, người Thái Tây Bắc còn có một phong tục tập quán độc đáo, mà ngay trong văn hóa ẩm thực đã có một phong cách rất tinh tế giầu tính nhân văn. Các món ăn của người Thái Tây Bắc vừa giản dị, dân dã, vừa chứa đựng bao điều sâu xa: Đất – Trời, Lửa – Nước, Âm dương – ngũ hành và triết lý nhân sinh sâu sắc.

Măng đắng - món ăn của người Tây Bắc

(HBĐT) - Người dân tộc miền núi xa quê, lâu lâu lại ngậm ngùi nhớ vị măng rừng; người thành thị ai đã ăn một lần đều thấy thòm thèm khi có người lên Tây Bắc là gửi mua. Thật Lạ! Bất kỳ vị đắng nào đều rất khó nuốt nhưng măng đắng lại là món yêu thích của rất nhiều người.