(HBĐT) - Sau những tội lỗi tày đình của Thạch phò mã, dù rất thương công chúa nhưng cực chẳng đã vua cha đành “nghiến răng” hạ bút phê chuẩn Quyết định buộc thôi việc đối với chàng rể quý. Vậy là chàng tiều phu lại bìu ríu vợ con trở về vùng rừng xanh, núi đỏ. Đúng vào dịp triều đình ra lệnh đóng cửa rừng nên cung, rìu, búa, nỏ cũng chỉ để Thạch Sanh làm những đồ vật kỷ niệm cho đỡ nhớ một thời oanh liệt.

 

Ngày ngày, chàng tiều phu cùng vợ con lội đầm, lội ruộng, mò cua, bắt ốc kiếm kế sinh nhai nhưng vào thời buổi đâu đâu cũng nhìn thấy hóa chất nên kiếm con tôm, con cá cũng hết sức nhọc nhằn.

 

Hôm ấy, ngán ngẩm với cảnh “mưa dầm, gió bấc”, Thạnh Sanh đành giải sầu với chai rượu nút lá chuối và vài hạt lạc quắn queo thì bỗng ông anh kết nghĩa đột ngột xuất hiện, giọng đầy thương xót: “Chú làm gì mà ủ rũ thế”. Rồi ghé sát vào tai chàng tiều phu thầm thì: “Anh sẽ bày cho chú một chiêu, vừa nhàn hạ, vừa kiếm tiền như chơi, chắc  chắn sẽ chẳng phải lo bữa cơm, bữa cháo nữa”. Vốn đã từng không ít lần “sa cơ, lỡ vận” vì mưu lược của ông anh kết nghĩa, Thạch Sanh tỏ ra rất cảnh giác: “Thôi, xin bác, em chịu khó lặn lội kiếm bữa qua ngày cho đầu óc thanh thản”. Tợp một ngụm rượu, Lý Thông trịnh trọng: “Chú yên tâm, cứ nghe lời anh, rồi chú thấy mọi chuyện đâu sẽ vào đấy”.

 

Chẳng biết hai anh em họ to nhỏ những gì, chỉ biết ông anh kết nghĩa “phân tích” đến đâu, ánh mắt Thạch Sanh rạng ngời đến đó. Ngay ngày hôm sau Thanh Sanh triệu tập 5-7 trai bản từng có “tiền án, tiền sự” đến phân công nhiệm vụ để triển khai nghề mới với hy vọng sớm đổi đời.

 

Vậy là từ hôm ấy, hễ nghe tin ở đâu có dịch cúm gia cầm hay lở mồm, long móng là Thạch Sanh cùng lũ tiểu yêu xuất hiện. Những hộ có đàn gia súc, gia cầm mắc dịch gặp anh em Thạnh Sanh chẳng khác nào “chết đuối vớ được cọc”, vì theo quy định, gia súc, gia cầm mắc bệnh đều phải tiêu huỷ để tránh lây lan. Đằng này lại được Thạch Sanh cùng đàn em thu gom, rồi còn “hỗ trợ” một phần kinh phí.

 

Gom hàng trăm, hàng nghìn con vịt, con gà, con lợn, rồi cả những con trâu, còn bò, con dê đang ủ rũ về vùng rừng xanh, núi đỏ. Thạch Sanh cùng lũ đàn em mua các loại hóa chất về để chế biến thành “Đặc sản”. Dưới sự chỉ đạo của Thạch Sanh, những  món ẩm thực nổi tiếng được tung ra thị trường. Nào là lạp sườn; thịt trâu, bò, lợn gác bếp; gà hấp muối, gà chiên nước mắm; lườn vịt nướng giòn; vịt quay Bắc Kinh; lợn cắp nách quay; vịt nấu giả cầy... giá cả hợp lý và hấp dẫn hơn là còn được khuyến mại cả “Chẩm chéo”, loại đồ chấm ấn tượng chỉ vùng rừng xanh, núi đỏ mới có. Với những thực khách quen thuộc còn thường xuyên được chiêu đãi những chảo thắng cố nóng hôi hổi.

 

Vốn ít, lãi nhiều khiến Thạch Sanh và lũ đàn em càng thêm ham. Đặc biệt, những ngày cuối năm tổng kết, liên hoan, hội nghị khách hàng, cưới xin lu bù nên guồng máy “Đặc sản” của Thạch Sanh lúc nào cũng chạy hết công suất mà không đáp ứng hết nhu cầu của khách hàng.

 

Những tưởng mọi chuyện cứ “Xuôi chèo, mát mái”. Hôm ấy, Công ty nọ tổ chức hội nghị khách hàng, sau tiệc chiêu đãi với món thắng cố cùng  với gà hấp muối, gà chiên nước nước mắm; lườn vịt nướng giòn, cả trăm người phải nhập viện với những triệu chứng bất thường. Cơ quan chúc năng vào cuộc, truy nguồn gốc thực phẩm thì tất cả đều từ lò “Đặc sản” của Thạch Sanh mà ra. Ngay lập tức, liên ngành đến kiểm tra, với “nhân chứng, vật chứng” rành rành, Thạch Sanh và lũ đàn em đành cúi đầu ký vào biên bản và chịu sự phán xét của pháp luật ngay trong những ngày Tết đã cận kề.

 

                                                      Đức Phượng

 

 

Các tin khác

Không có hình ảnh
Không có hình ảnh
Không có hình ảnh

Vùng đất một thời oanh liệt

 (HBĐT) - Tôi có người anh tham gia quân đội năm 1968, hy sinh trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, mấy chục năm qua, ngoài tấm bằng "Tổ quốc ghi công”, gia đình chỉ còn lưu giữ duy nhất tờ giấy báo tử mang tên Nguyễn Văn Luyện, sinh năm 1937, quê quán xóm Đá Bạc, xã Liên Sơn, Lương Sơn, Hòa Bình, đơn vị: "Tiểu đoàn bộ 8 - KB”, hy sinh "tại mặt trận phía Nam”. Chị tôi cùng các cháu đã cất công tìm kiếm khắp nơi, kể cả đường tâm linh, ngoại cảm nhưng tất cả đều vô vọng.

Quê hương đổi mới

(HBĐT) - Quê tôi là vùng đồng chiêm trũng nghèo, người dân chịu thương, chịu khó, lam lũ quanh năm nhưng cuộc sống thiếu trước, hụt sau. Mỗi lần về quê, trong tôi đều có những cảm nhận khác nhau và lần này cũng vậy. Đến đầu làng, tâm hồn tôi đã dâng trào cảm xúc, hít một hơi thật sâu vào lồng ngực, cảm giác thật hạnh phúc. Đó là cảm nhận của đứa con xa nhà lâu ngày mới trở về bên mái ấm gia đình, được sà vào vòng tay yêu thương của cha mẹ.

Bức tranh mùa vàng

(HBĐT) - Chiều hè, tôi muốn được đứng trên bờ đê chạy theo con sông hiền hòa quê tôi để hóng gió. Những cơn gió mát rượi từ dưới lòng sông thổi lên quyện với hương thơm nồng của cánh đồng lúa chín.

Một thời phượng vỹ

(HBĐT) - Không biết tự bao giờ sân trường tôi đã có hàng phượng vĩ. Những gốc phượng khẳng khiu lạc giữa cơ man nào là bê tông, cốt thép, cửa kính tường vôi… cứ lầm lũi như thế suốt những tháng ngày đông giá. Trong nắng tháng tư hanh vàng, nắng tháng 6 đổ lửa xuống sân trường, tán phượng đơn sơ chỉ đủ làm nên chút bóng mát đơn sơ. Nhìn lên tán cây đang đơm đầy nụ hoa, bác lao công dừng tay chổi:

Những cơn mưa mùa hạ


(HBĐT) - Cả buổi sáng chỉ dọn dẹp hai tầng ngôi nhà nhỏ xíu với hai phòng ngủ, phòng khách, phòng ăn, gian bếp, vậy mà mãi đến non trưa mới xong. Nằm ngả lưng xuống giường thì nghe vọng xa xa tiếng sấm. Nhìn quầng sáng hắt bên ngoài cửa kính chợt nghĩ: nắng to vậy sao mưa được.

Ngoại ô xưa

(HBĐT) - Ở thành phố này bấy nhiêu năm, sau bao bận xách va li tới những miền đất lạ, tôi mới nhớ ra ngay kề thành phố mình còn một khu ngoại ô lạ lẫm. Mùa đông, rồi mùa hạ, có bao thứ rau củ xuất hiện trên chiếc đĩa sứ tráng men sáng bóng, những gam màu sinh tố trong li thủy tinh nhưng đã mấy ai biết được mảnh đất ngoại ô nhỏ bé đã phôi thai những sắc màu ấy như thế nào.