(HBĐT) - Tàu sắt trọng tải 25 tấn chở chúng tôi cập bến bản Phủ, xã Toàn Sơn (Đà Bắc). Bà con người Dao ào ra bến đón chúng tôi, đông nhất là trẻ nhỏ. Các cháu bồng bế, dắt díu nhau cứ sàn sàn như trứng gà, trứng vịt. Cụ Triệu Văn Đờn, 75 tuổi mái đầu bạc phơ nhưng còn rất khỏe. Nắm tay tôi, cụ bảo: “Vào nhà đi”.

 

Nhà cụ rộng thênh thang, thoáng mát, sạch sẽ. 8 chiếc ghế mây óng ánh màu cánh dán đặt đều đặn, ngay ngắn chung quanh bếp. Nhìn cung cách sắp xếp chỗ ngồi, tôi có cảm giác ở đây vừa diễn ra một cuộc đàm đạo gì đó nghiêm chỉnh lắm. Cảm giác mà hơn 20 ngày sau đã được diễn ra ở lễ đọc thánh thư trong lễ đặt tên, một lễ hội văn hóa dân tộc rất thiêng liêng, đặc sắc mà chúng tôi đã tận mắt trông thấy và ghi chép được.

 

Bốn người đàn ông có trình độ học vấn cao nhất, họ được coi là những bậc “thâm nho - thánh sư” ngồi ngay ngắn, trầm ngâm chung quanh chiếc bàn làm lễ nhập đàn rồi giở từng trang thánh thư vừa đọc, vừa bình và suy ngẫm về đạo trời, đạo làm người nơi trần thế. Cuốn thánh thư dày 200 trang với 360 câu thơ, viết bằng Hán tự nhưng lại được đọc bằng Nôm Dao. Đây là một trong những nội dung, hành động của lễ đặt tên mà cũng là một hiện tượng văn hóa hiếm thấy ở xứ ta.

 

Nhà cụ Đờn cột kê, thưng ván gỗ tốt còn mới, đỏ au. Tủ, giường, xa lông đều làm từ gỗ lát. Trên tủ đặt một chiếc tivi Samsung không bắt màu. Sát vách phía bếp xếp một đống lúa, lúa bó từng cụm, đống lúa cao tới gần 2 m.

 

Vừa từ phố thị ồn ã, xe cộ tấp nập, mua bán, ăn uống qua cảng Bích Hạ quán lều tạm bợ, đến bản Phủ, người Dao hiền lành, chất phác, chúng tôi cảm nhận được một chút vững dạ yên bình. Để đảm bảo chắc chắn là những cảm nhận và những điều tai nghe mắt thấy tại nhà cụ Đờn, không phải là một cảm nhận riêng biệt. Chúng tôi theo cụ Triệu đến thăm nhà anh Triệu Văn Toàn, 38 tuổi; anh Triệu Thu, 37 tuổi; ông Triệu Văn Dương, 64 tuổi. Gia đình anh Triệu Văn Toàn còn mua cả màn hình màu hãng Sony để xem video và hát karaoke.

 

Nhà nào cũng khá dần lên như nhà cụ Triệu. Chúng tôi càng tin vào cuộc sống của nhân dân vùng ven hồ hôm nay đã khác xa dăm, bảy năm trước. Lúc đó có đoàn khách hơn 40 người  tận bên Pháp đến đây du ngoạn cảnh quan ven hồ. 10 h ngày hôm sau lại có thêm một đoàn hơn 60 du khách người Pháp đến đây thăm quan.

 

Tôi tự lục vấn mình: Bản Phủ ven hồ có gì hấp dẫn để người ở cách xa ngàn dặm tận kinh đô ánh sáng Pari nước Pháp đến đây thăm viếng, tìm hiểu?

Cách đây không lâu, người Dao bản Phủ và cộng đồng dân cư ở hai bờ sông Đà đã bị mặt nước dâng lên, đẩy lên sườn đồi, đỉnh núi, thực hiện một cuộc đại chuyển cư, nhường lại vườn tược, ao chuôm, đất đai làm hồ chứa nước đổ vào tuabin nhà máy thủy điện của CNH-HĐH đất nước. Nhà máy điện đặt sừng sững ngay ở Hòa Bình.

 

Bản Phủ có 62 hộ với 362 nhân khẩu. Mỗi hộ được giao sử dụng 50 ha đất rừng. Mấy năm lại đây, nhân dân bản Phủ sống nhờ chủ yếu vào cây ngô và cây gừng tía trồng xen canh với cây phòng hộ. Từ hạt ngô xuôi nội, củ gừng xuất ngoại để đổi ra muối, gạo, quần áo, tivi, thuốc trị bệnh đảm bảo nâng cao dần cuộc sống thời đổi mới, phát triển, 52 hộ trong bản tạm no đủ, 6 hộ khá giả, còn thì vẫn nghèo. Sĩ số học sinh trường tiểu học và THCS mỗi ngày một tăng. Hai thanh niên đã thành bác sĩ, một là kỹ sư và hàng chục người theo học cao đẳng  sư phạm.

 

Cách đây 2 năm, một ông tiến sĩ người Mường đã nói: “ở miền xuôi chỉ cần đưa vốn và công nghệ mới vào là sản xuất, đời sống phát triển. Còn ở miền núi nếu trước hết không nâng cao trình độ con người, không đào tạo được cán bộ thì càng đổ tiền vào xóa đói, giảm nghèo dân lại càng nghèo thêm”. Thế mới biết, người dân bản Phủ biết nhìn xa, trông rộng. Sự hấp dẫn khách đến thăm bản Phủ không chỉ có thế mà thử nhìn xa ra độ mười tầm tay là rừng cây xanh mướt, là hồ nước mênh mang và nhớ lại 15 năm trước người dân bản Phủ ở đây còn là những người “chặt cây ăn ngọn”. “No nhìn xuống suối, đói nhìn lên rừng” quanh năm săn bắn, hái lượm, sợ sông nước hơn con sơn dương sợ nước.

Thế mà hôm nay họ đã mua thuyền trọng tải 25 tấn dọc ngang sông nước lên tận Tạ Bú (Sơn La) chở hàng về cảng bán buôn làm giàu và đêm đêm thả lưới xuống hồ bắt cá. Nhìn những chiếc thuyền độc mộc hình cánh hoa mộc lan dài khoảng 2 m, rộng 1 m, những tay chèo tay lái là các cháu người Dao, tuổi độ 9, 10, hàng ngày dọc ngang mặt hồ đi học, đi chơi mà phục.

 

Sự hấp dẫn của người Dao bản Phủ còn mạnh mẽ, sâu đậm hơn bởi họ luôn luôn đứng vững trên nền tảng truyền thống, giữ vững bản sắc dân tộc của mình. Quyết tâm vươn lên phát triển kinh tế, văn hóa, thực hiện mục tiêu quê hương giàu mạnh.

 

 

                                                    NSƯT Bùi Chí Thanh

                                  (SN 117, tổ 1, phường Chăm Mát, TP Hòa Bình)

Các tin khác

Không có hình ảnh
Không có hình ảnh
Không có hình ảnh

Vùng đất một thời oanh liệt

 (HBĐT) - Tôi có người anh tham gia quân đội năm 1968, hy sinh trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, mấy chục năm qua, ngoài tấm bằng "Tổ quốc ghi công”, gia đình chỉ còn lưu giữ duy nhất tờ giấy báo tử mang tên Nguyễn Văn Luyện, sinh năm 1937, quê quán xóm Đá Bạc, xã Liên Sơn, Lương Sơn, Hòa Bình, đơn vị: "Tiểu đoàn bộ 8 - KB”, hy sinh "tại mặt trận phía Nam”. Chị tôi cùng các cháu đã cất công tìm kiếm khắp nơi, kể cả đường tâm linh, ngoại cảm nhưng tất cả đều vô vọng.

Quê hương đổi mới

(HBĐT) - Quê tôi là vùng đồng chiêm trũng nghèo, người dân chịu thương, chịu khó, lam lũ quanh năm nhưng cuộc sống thiếu trước, hụt sau. Mỗi lần về quê, trong tôi đều có những cảm nhận khác nhau và lần này cũng vậy. Đến đầu làng, tâm hồn tôi đã dâng trào cảm xúc, hít một hơi thật sâu vào lồng ngực, cảm giác thật hạnh phúc. Đó là cảm nhận của đứa con xa nhà lâu ngày mới trở về bên mái ấm gia đình, được sà vào vòng tay yêu thương của cha mẹ.

Bức tranh mùa vàng

(HBĐT) - Chiều hè, tôi muốn được đứng trên bờ đê chạy theo con sông hiền hòa quê tôi để hóng gió. Những cơn gió mát rượi từ dưới lòng sông thổi lên quyện với hương thơm nồng của cánh đồng lúa chín.

Một thời phượng vỹ

(HBĐT) - Không biết tự bao giờ sân trường tôi đã có hàng phượng vĩ. Những gốc phượng khẳng khiu lạc giữa cơ man nào là bê tông, cốt thép, cửa kính tường vôi… cứ lầm lũi như thế suốt những tháng ngày đông giá. Trong nắng tháng tư hanh vàng, nắng tháng 6 đổ lửa xuống sân trường, tán phượng đơn sơ chỉ đủ làm nên chút bóng mát đơn sơ. Nhìn lên tán cây đang đơm đầy nụ hoa, bác lao công dừng tay chổi:

Những cơn mưa mùa hạ


(HBĐT) - Cả buổi sáng chỉ dọn dẹp hai tầng ngôi nhà nhỏ xíu với hai phòng ngủ, phòng khách, phòng ăn, gian bếp, vậy mà mãi đến non trưa mới xong. Nằm ngả lưng xuống giường thì nghe vọng xa xa tiếng sấm. Nhìn quầng sáng hắt bên ngoài cửa kính chợt nghĩ: nắng to vậy sao mưa được.

Ngoại ô xưa

(HBĐT) - Ở thành phố này bấy nhiêu năm, sau bao bận xách va li tới những miền đất lạ, tôi mới nhớ ra ngay kề thành phố mình còn một khu ngoại ô lạ lẫm. Mùa đông, rồi mùa hạ, có bao thứ rau củ xuất hiện trên chiếc đĩa sứ tráng men sáng bóng, những gam màu sinh tố trong li thủy tinh nhưng đã mấy ai biết được mảnh đất ngoại ô nhỏ bé đã phôi thai những sắc màu ấy như thế nào.