• Thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII
  • Thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI nhiệm kỳ 2015-2020
Thuế với cuộc sống
Một số sửa đổi, bổ sung mới về thuế tài nguyên
Cập nhật: Thứ ba, 27/10/2015 | 2:46:29 Chiều

(HBĐT) - Nhằm tăng cường công tác quản lý thuế và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác, chế biến tài nguyên, khoáng sản, ngày 2/10/2015, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 152/2015/TT-BTC hướng dẫn về thuế tài nguyên và có hiệu lực thi hành từ ngày 20/11/2015 thay thế Thông tư số 105/2010/ TT-BTC ngày 23/7/2010. Theo đó, một số nội dung mới như sau:

 

1. Về phạm vi áp dụng.

Trước đây, đối với hoạt động  thăm dò, khai thác dầu thô, khí thiên nhiên tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về dầu khí do các nhà thầu thực hiện, có khai thác tài nguyên đều thuộc phạm vi áp dụng thuế tài nguyên.

Nay, đối với dầu thô, khí thiên nhiên, khí than thực hiện theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính. Vì vậy, những tài nguyên này không hướng dẫn tại Thông tư số 152.

2. Về đối tượng chịu thuế.

Hướng dẫn cụ thể hơn đối với nước thiên nhiên bao gồm: nước mặt  và nước dưới đất; trừ nước thiên nhiên dùng cho nông nghiệp, lâm - ngư - diêm nghiệp và nước biển để làm mát máy. Nước biển làm mát máy phải đảm bảo các yêu cầu về môi trường, hiệu quả sử dụng nước tuần hoàn và điều kiện kinh tế - kỹ thuật chuyên ngành được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận.

Đối với yến sào thiên nhiên, trừ yến sào do tổ chức, cá nhân thu được từ hoạt động đầu tư xây dựng nhà để dẫn dụ chim yến tự nhiên về nuôi và khai thác.

Yến sào do tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng nhà để dẫn dụ chim yến tự nhiên về nuôi và khai thác phải đảm bảo theo quy định tại Thông tư số 35, ngày 22/7/2013 của Bộ NN&PTNT và các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế (nếu có).

3. Về người nộp thuế (NNT).

Người nộp thuế tài nguyên trong một số trường hợp được quy định cụ thể:

- Đối với khai thác tài nguyên khoáng sản, NNT là tổ chức, hộ kinh doanh được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép khai thác khoáng sản.  Trường hợp tổ chức được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép khai thác khoáng sản, được phép hợp tác với tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên và có quy định riêng về NNT thì NNT tài nguyên được xác định theo văn bản đó. Trường hợp tổ chức được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép khai thác khoáng sản, sau đó có văn bản giao cho các đơn vị trực thuộc khai thác tài nguyên thì mỗi đơn vị khai thác là NNT tài nguyên.

- Tổ chức, cá nhân sử dụng nước từ công trình thuỷ lợi để phát điện là NNT tài nguyên (không phân biệt nguồn vốn đầu tư công trình thuỷ lợi). Trường hợp tổ chức quản lý công trình thủy lợi cung cấp nước cho tổ chức, cá nhân khác để sản xuất nước sinh hoạt hoặc sử dụng vào các mục đích khác (trừ trường hợp sử dụng nước để phát điện), tổ chức quản lý công trình thủy lợi là NNT.

4. Về sản lượng tài nguyên  tính thuế.

Trường hợp tài nguyên khai thác thu được sản phẩm có nhiều cấp độ, chất lượng, giá trị thương mại khác nhau, sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định theo sản lượng từng loại tài nguyên có cùng cấp độ, chất lượng, giá trị thương mại như nhau hoặc quy ra sản lượng của loại tài nguyên có sản lượng bán ra lớn nhất để làm căn cứ xác định sản lượng tính thuế cho toàn bộ sản lượng tài nguyên khai thác trong kỳ.

Trường hợp đất, đá, phế thải, bã xít thu được qua sàng tuyển mà bán ra phải nộp thuế tài nguyên đối với lượng tài nguyên có trong phế thải, bã xít bán ra theo giá bán và thuế suất tương ứng của tài nguyên có trong phế thải, bã xít.

Đối với tài nguyên khai thác, không bán ra mà phải qua sản xuất, chế biến mới bán ra (tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu), sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng tài nguyên khai thác được xác định bằng cách quy đổi từ sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ để bán ra theo định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm. Định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm do NNT kê khai căn cứ dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, tiêu chuẩn công nghệ thiết kế để sản xuất sản phẩm đang ứng dụng, trong đó:

- Trường hợp sản phẩm bán ra là sản phẩm tài nguyên thì căn cứ định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm tài nguyên sản xuất bán ra.

- Trường hợp sản phẩm bán ra là sản phẩm công nghiệp thì căn định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm công nghiệp sản xuất bán ra.

Việc xác định sản phẩm bán ra sau quá trình chế biến là sản phẩm công nghiệp hay không phải sản phẩm công nghiệp do bộ quản lý Nhà nước chuyên ngành thực hiện theo thẩm quyền.

 

 

(Còn nữa)

 

 

 

                                                                        Văn Hồng Quý

                                                                        (Cục Thuế tỉnh)

 

 

 

Các tin khác
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục
 
BÀI NHIỀU NGƯỜI ĐỌC
Quảng cáo
 

Nhiệt độ: 16 - 20°C

Nhiệt độ: 16 - 20 °C

Nhiệt độ: 16 - 20 °C
Mã vùng điện thoại
Mã vùng bưu chính
Số điện thoại đặc biệt
Số lượt truy cập
0105327387
Built by ICT Group