(HBĐT) - Những bàn tay nam thanh, nữ tú nắm chặt say điệu xòe, điệu khắp đối đáp tình tứ được cất lên kéo dài đến tận đêm về sáng… hòa trong tiết xuân của đất trời, người Thái ở Mai Châu đón Lễ cơm mới. Trước đây, người Thái không ăn Tết Nguyên đán như người Việt, Lễ cơm mới được xem là nghi lễ lớn nhất trong năm. Tuy đã có nhiều giao thoa, tiếp biến với văn hóa của các dân tộc khác, song cho đến nay, Lễ cơm mới của người Thái ở huyện Mai Châu vẫn còn giữ được những nét độc đáo, riêng biệt.

 

 

Tết cơm mới, ông Mo có vai trò quan trọng trong việc làm lễ cúng vía người đã khuất về vui với con cháu.

 

Trao vinh hạnh cho con dâu gia đình  “đăng cai” làm ló

 

Lễ cơm mới (khau mờ) khép lại chu trình sản xuất 1 năm của người Thái ở Mai Châu. Khau mờ khác khau hạch (ăn mừng cơm mới). Với mỗi gia đình người Thái, khau hạch diễn ra 2 lần mỗi năm, đó là lúc gia chủ ăn bát cơm chiêm, cơm mùa đầu tiên, họ làm mâm cỗ cúng tưởng nhớ tổ tiên, ăn mừng sản vật nông nghiệp vừa thu hoạch. Trong khi đó, khau mờ mỗi năm chỉ diễn ra đúng 1 lần, trong khoảng từ tháng chạp đến tháng ba, tức là từ lúc kết thúc vụ mùa đến mở đầu việc làm rẫy cho mùa sau. Thu mùa xong, anh em ruột họp nhau lại cắt cử người đứng ra làm Tết cơm mới. Khác người xuôi, ngày tổ chức Lễ cơm mới không thống nhất chung cho các gia đình người Thái mà tùy thuộc vào hoàn cảnh của người được cắt cử làm lễ. Sau khi chuẩn bị chu đáo mọi mặt, gia chủ chọn ngày lành tháng tốt để làm. Ngày khau mờ là niềm vui của cả cộng đồng dòng họ trong bản nhưng trách nhiệm lớn lao, vinh hạnh hơn cả vẫn là cô con dâu trong gia đình đăng cai làm lễ.

 

Chúng tôi đến Bản Lác, xã Chiềng Châu (Mai Châu) theo lời mời của ông Hà Công Tín - một người Thái gốc, nặng lòng với việc bảo tồn văn hóa truyền thống đúng dịp gia đình ông đến phiên tổ chức Tết cơm mới. Từ tờ mờ sáng, chủ nhà đã mời anh em họ hàng đến. Cô dâu khoác bộ quần áo lụa hoa dài, màu vàng, đỏ đến trước bàn thờ tổ tiên thay. Nơi ấy trong suốt năm cô dâu không được tới. Việc làm này có ý để cô dâu trình tổ tiên, xin phép về dự lễ. Mặc quần áo xong cô đeo vòng bạc vào cổ tay, đeo túi thổ cẩm đựng đồ trang sức, đáy có gắn hai răng nanh lợn rừng. Cô lấy thang leo lên gác với những bó lúa nếp hạt mẩy vàng xuộm xuống, đặt lên chõng tre. Mọi người cùng cô khiêng từ sàn xuống đất. Người khiêng phải tỏ vẻ nặng nhọc và nghỉ năm lần, ý muốn trình tổ tiên thấy con cháu làm được nhiều lúa, nhiều gạo.

 

Ông Hà Công Tín chia sẻ: Trao vinh hạnh này cho cô con dâu trong gia đình “đăng cai” làm lễ thể hiện sự tiến bộ của văn hóa Thái. Bởi rất nhiều dân tộc khác, mọi nghi lễ phải do đàn ông đảm nhiệm, vai trò của phụ nữ luôn bị xem nhẹ. Chính từ những truyền thống rất nhân văn đó, cho đến nay, trong gia đình người Thái, sự tôn trọng, bình quyền giữa đàn ông và phụ nữ vẫn luôn được thể hiện khá rõ.

 

Độc đáo đồ cúng Lễ cơm mới

 

Đặc trưng trong ẩm thực của người Thái ở Mai Châu nói riêng là xôi ngũ sắc. Khi ông Mo bày lễ dưới sàn nhà, cô con dâu nhanh chóng mang lúa đi xay, giã thành gạo. Sau đó, mang gạo ngâm nước lá cong cằm vò nát để có màu đỏ, màu tím. Muốn gạo có màu vàng ngâm nước nghệ, muốn màu đen dùng hạt nếp cẩm, phần xôi màu trắng là để nguyên nếp cái. Cô dâu đem gạo cho vào chõ gỗ đồ. Xôi chín dỡ ra, cô vừa cời, vừa quạt cho nguội. Tiếp theo, cô vớt từ chum ra những khúc cá muối chua, lấy lá chuối gói cá chua với bột gạo, ngoài buộc lạt. Lạt buộc lấy số lẻ (1 - 3 - 5 - 7 - 9). Cũng theo ông Hà Công Tín: Người Thái quan niệm số lẻ dành cho ma, vì vậy cúng cho ma phải dùng lạt số lẻ. Lạt buộc phản ánh sự phân biệt thứ bậc dòng họ trong xã hội Thái xưa kia. Họ quý tộc đứng đầu là họ Hà Công buộc 9 lạt, họ Hà Văn buộc 7 lạt, sau là các họ thường dân. Cá chua đồ chín cùng xôi đặt vào mâm cỗ.

 

Điều đáng chú ý là trong Lễ cơm mới các gia đình người Thái nhất nhất phải lấy cá để cúng, ngoài cá là thịt chim, thú rừng khô. Trong đồng bào Thái vẫn truyền miệng câu chuyện giải thích về vấn đề này, đó là: vào thời người và vật còn biết tiếng của nhau, có vợ chồng nhà kia sau mùa thu hoạch muốn làm mâm cơm cúng. Đêm đó, vợ chồng bàn nhau mai bắt con gà mái đang nuôi con làm vật cúng. Gà mẹ nằm dưới chuồng biết vậy đánh thức các con dậy dặn rằng: Ngày mai, người hóa kiếp cho mẹ rồi nên mẹ chỉ còn ở với các con đêm nay thôi. Mẹ đi, mẹ thương các con lắm. Mẹ mong các con no đói quấn quýt lấy nhau, con nào ngắn lông nằm trong, con nào dài lông nằm ngoài, chớ vì vắng mẹ mà anh em chia lìa nhau.

 

Nghe gà mẹ nói vậy, các con nức nở khóc. Người vợ biết chuyện mới tỉ tê với chồng: “Các con vật no đói cùng ta bao ngày, nay đến mùa thu hoạch chúng vui mừng đón đợi hạt lúa mới cũng như ta, lẽ nào ta lại giết chúng đi”. Người chồng thuận theo lời vợ không giết gà nữa. Sớm mai, hai vợ chồng cầm vợt ra suối xúc cá lấy thức ăn cúng tổ tiên. Tục kiêng giết vật nuôi trong nhà cúng tổ tiên trong lễ cơm mới có từ đó.

 

Nhân văn Tết cơm mới của người Thái ở Mai Châu

 

Mâm cơm cúng bày biện xong, ông Mo sẽ làm lễ cúng vía người đi xa về vui với con cháu. Đối với người Thái không làm giỗ vào ngày của người đã khuất. Hằng năm tất thảy đều nhân ngày khau hạch, khau mờ, ngày làm vía cũng như các ngày lễ khác để mời người đã khuất về chia vui.

 

Trong dịp lễ cơm mới, ông Mo kể chuyện xa xưa cho cả cộng đồng dòng họ nghe. Chuyện trời đất sinh ra như thế nào? Và người Thái múa giáo lên Mường Bôn, Mường Trời chặt rễ cây si quấn tắc họng Bôn, họng Trời ra sao? Mở được họng Trời rồi, Trời nổi sấm cho muôn loài nghe. Trời tuôn nước cho muôn loài thấy, cho nước lênh láng khắp bản mường. Người Thái phải cho người xuống mua sắt của người Kinh về rèn thành rìu, mang rìu lên rừng chặt gỗ về làm đập, làm phai chặn nước lại. Rồi ông Mo lại kể chuyện người Thái làm mạ, đi cấy, chăm lúa. Tóm lại, phải vất vả lắm mới có hạt lúa đem về nhà làm tết. Cho nên con cháu phải biết ơn công sức của người làm ra hạt gạo nuôi sống mình.

 

Tết cơm mới là dịp để người dân vui chơi, biểu diễn văn nghệ góp phần bảo tồn các điệu múa truyền thống.

  

Tước bỏ những đoạn nặng về nghi lễ tôn giáo, phần còn lại của mo khau mờ là kể chuyện bằng văn vần, thông qua những hình tượng bay bổng, kỳ vĩ đã ca ngợi công cuộc đấu tranh liên tục của các thế hệ người Thái từ xưa đến nay nhằm biến đổi tự nhiên xây dựng cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.

 

Lễ cơm mới là ngày vui chơi giải trí. Trẻ em tụ tập đánh lẻ - trò chơi rất phổ biến ở các em 9 - 15 tuổi. Ngoài ra các em trai chơi đánh quay, đánh khăng… Chờ khi ông Mo cúng tổ tiên xong, các em là người được ưu tiên phá cỗ trước mọi người. Vừa ăn các em vừa reo hò vui vẻ. Nhà nào làm khau mờ không có nhiều trẻ em đến ăn cỗ làm vui coi như lễ năm ấy không tốt, năm sau phải tổ chức lại chu đáo hơn. Còn ở đầu chái nhà sàn, các thiếu nữ Thái cầm chày theo nhịp của người cầm chày cái, các cô diễn lại động tác giã gạo. Cùng với tiếng kể mo đều đều là tiếng trầm bổng của chày đánh máng có lót rơm ở dưới và tiếng thập thịch của những bước chân cô gái nhún nhảy.

 

Suốt thời gian lễ, mọi người nói với nhau những lời tốt đẹp. Tối đến các thành viên trong họ ngồi vào mâm cơm. Trước lúc ăn, cô dâu gói ít cá, ít cơm mang cho các vật nuôi trong nhà, đặc biệt mang cho con trâu, con vật vất vả cùng người bao lâu để có hạt lúa. Mọi người ngồi ăn. Rượu nhắm với thịt thú rừng khô. Xôi nhuộn màu có mùi thơm cay của gừng. Chỉ cần mở gói lá ra ta cảm nhận ngay hương vị vừa béo, vừa thơm, vừa bùi, vừa đậm ngọt của cá ướp chua đồ chín.

 

Cuộc rượu đang nồng, mâm hát được khơi lên. Các cây hát (khắp) nam, hát (khắp) nữ hát đối nhau cho đến tận sáng. Cô dâu quần chùng áo dài đi lại mời khách thể hiện tài giao tiếp của mình.

 

Trong tiếng cười nói chan hòa, ông Tín và người nhà cùng mời anh em, họ hàng những chén rượu cay nồng ấm, họ trao nhau những lời chúc tốt đẹp nhất cho năm mới. ông chia sẻ thêm: Lễ cơm mới dẫu chỉ diễn ra có một ngày một đêm và bó hẹp trong sự quần tụ của một dòng họ, nhưng ngày đó là niềm vui trọn vẹn nhất của mọi nhà trong họ, trong bản sau một năm làm ăn vất vả để nghỉ ngơi, vui chơi, để chế biến sản phẩm nông nghiệp, để tỏ lòng thành kính với tiên tổ. Ngày ấy là khoảng khắc giao cảm của mùa cũ với mùa mới, giao cảm giữa trời và đất, giao cảm giữa cõi sống và cõi chết. Khoảnh khắc tạo ra sự linh thiêng ấy gắn bó các thành viên trong cộng đồng với nhau để cùng hướng đến những điều tốt đẹp đặt ra trong cuộc đời của mỗi người dân tộc Thái.

 

                                                                 

                                                                               Hải Yến

 

Các tin khác

Không có hình ảnh

Tìm hiểu về nhà lang trong xã hội cổ truyền Mường

(HBĐT) - Theo quan điểm chung của giới nghiên cứu cho thấy, chế độ lang - đạo ra đời trong xã hội Mường từ giai đoạn đồ đồng chuyển sang giai đoạn đồ sắt, tương ứng giai đoạn văn hóa Đông Sơn. Nhờ có công cụ bằng kim khí nên năng suất lao động tăng cao, của cải trong xã hội dồi dào hơn trước. Hình thức sở hữu tư nhân chiếm ưu thế tuyệt đối, xã hội phân chia giai cấp diễn ra mạnh mẽ. Giai đoạn đầu khi mới hình thành, chế độ lang - đạo còn gần gũi với nhân dân, đóng vai trò như là tù trưởng, thủ lĩnh, phù hợp với trình độ sản xuất, quản lý xã hội khi đó. Trải qua hàng trăm năm, chế độ lang - đạo tập trung cho mình quyền tuyệt đối về sở hữu tư liệu sản xuất, thậm chí cả người dân của mình, dẫn đến độc quyền trong phân phối sản phẩm, độc quyền trong việc đề ra các luật lệ. Dân Mường phải lệ thuộc và trở thành nông nô, lao động cho các nhà lang. Chế độ này dần thoái hóa, trở nên cực kỳ bảo thủ, phản động cản trở bước tiến của xã hội và dần trở nên mâu thuẫn, đối lập sinh tử với dân Mường và bị đánh đổ trong cách mạng tháng 8/1945. Loạt bài viết này xin lược giới thiệu về nhà lang và chế độ nhà lang nhằm cung cấp cho bạn đọc cái nhìn tuy sơ lược nhưng toàn về chế độ này trong xã hội Mường trước tháng 8/1945.

Chuyện kể về anh hùng Bùi Văn Hợp

(HBĐT) - Con đường bê tông rợp bóng tre đưa chúng tôi đến ngôi nhà nhỏ tại xóm Chiềng 1, xã Vĩnh Đồng, huyện Kim Bôi - nơi anh hùng Bùi Văn Hợp sinh ra và lớn lên. Kín những khoảng tường trong ngôi nhà nhỏ là rất nhiều giấy khen, huân, huy chương. 45 năm sau ngày anh ngã xuống, câu chuyện về anh vẫn có sức sống mãnh liệt, là niềm tự hào của mảnh đất Mường Động anh hùng.

Truyền thống “ đi trước mở đường” tiếp bước tương lai

(HBĐT) - Địa bàn tỉnh là đầu mối giao thông tỏa đia mọi miền đất nước có tầm đặc biệt quan trọng trong thời chiến tranh. Quốc lộ 6 nối liền Thủ đô với các tỉnh đồng bằng qua miền Trung du lên Tây Bắc, sang Lào, vào các tỉnh khu 4, đến chiến trường miền Nam. Trục đường 6 nối liền quốc lộ 21A, 12A, 21B, quốc lộ 15, tất cả hình thành hệ thống GTVT liên hoàn. Trên các tuyến có 5 bến phà là: Bờ, Rút, Thia, Vụ Bản, Chi Nê. Trên các tuyến giao thông có các cầu, cống lớn, nhiều nhịp, khẩu độ hàng chục mét, có nhiều đoạn qua đèo hiểm trở bên núi, bên sông như dốc Chó Treo, đèo Hút Gió…Đó là những trọng điểm xung yếu được xác định là “yết hầu” của tuyến giao thông trên địa bàn, cũng là trọng điểm đánh phá liên tục của giặc Mỹ trong chiến tranh.

Xã Thu Phong âm vang chiến công bắn rơi máy bay Mỹ

(HBĐT)- Mảnh đất anh hùng Thu Phong (Cao Phong) đang từng ngày đổi thay. Thu Phong phủ một màu xanh bạt ngàn của những đồi cam. Trái cam vàng đã đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc nhưng trong tiềm thức của người dân nơi đây luôn âm vang chiến công oanh liệt dùng súng trường bắn rơi máy bay Mỹ ngày 20/7/1966 của 5 dân quân xã Thu Phong.

Nhìn lại đôi nét lịch sử huyện Lạc Sơn, văn hóa Mường qua một bộ sưu tập ảnh quý

(HBĐT) - Hiện nay, tại làng Chiềng Vang ở huyện Lạc Sơn, trong gia đình ông Quách Phẩm còn lưu giữ hơn 100 bức ảnh đen trắng được chụp từ những năm 1930 - 1940 của thế kỷ XX, có giá trị về nhiều mặt. Qua thông tin các bức ảnh có thể cho ta thấy được phần nào về văn hóa, đời sống của người Mường trong thời Pháp thuộc. Trải qua nhiều thăng trầm của thời cuộc, lịch sử tác động đến gia đình cộng với sự dịch chuyển nhiều lần, qua tay nhiều người, chất liệu ảnh cơ bản in trên giấy nên nhiều ảnh đã phai, ố, bong tróc, tuy nhiên có nhiều bức ảnh còn giữ được những nét cơ bản dễ nhận biết.

Đồng chí Lê Duẩn - tấm gương người chiến sỹ cộng sản kiên cường

(HBĐT) - Sau khi đất nước thống nhất, cả nước cùng tiến lên CNXH, đồng chí Lê Duẩn đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm xác định và hoàn chỉnh đường lối cách mạng XHCN ở nước ta. Đường lối ấy thể hiện những tư tưởng lớn của đồng chí về giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; về nắm vững chuyên chính vô sản và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động; về tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt, coi công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ; về nền văn hóa mới và con người mới XHCN; về cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý...