(HBĐT) - Ngày 23/2/1952, địch bắt đầu rút chạy khỏi TX Hòa Bình. Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích ven đường 6 đã kịp thời truy kích, chặn đánh, chia cắt toàn quân địch, dội pháo xuống đội hình hành quân tháo chạy của chúng. Tại Thịnh Lang, 2 đại đội địch bị tiêu diệt. Tại bến Ngọc, nhiều ca nô bị bắn chìm, xe giặc bốc cháy, hàng chục tên giặc tan xác. Trên các đoạn đường quốc lộ số 6 từ Phương Lâm đến Đầm Lấm, từ cầu Dụ đến Xuân Mai trên 1 tiểu đoàn giặc phải phơi xác.

 

Đối với địch, đoạn đường rút lui từ TX Hòa Bình về Xuân Mai là đoạn đường máu và nước mắt. Phải mất 2 ngày chúng mới rút hết về căn cứ Xuân Mai.

Sau hơn 3 tháng anh dũng chiến đấu khó khăn, gian khổ, hy sinh, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi. Quân và dân trong tỉnh phối hợp, hiệp đồng với bộ đội chủ lực tiêu hao, tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực địch: 6.012 tên bị tiêu diệt, phá hủy 156 xe các loại, 17 tàu chiến, ca nô, 24 khẩu đại bác bị phá hủy cùng nhiều phương tiện chiến tranh khác, 9 máy bay bị bắn rơi... Hoà Bình được giải phóng đã giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và 4, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của Pháp.

Một lần nữa, Hòa Bình là nơi ghi đậm dấu ấn thất bại thảm hại của quân đội viễn chinh Pháp.

Một lần nữa, Đảng bộ, quân dân Hòa Bình lại dạt dào niềm vui chiến thắng, giải phóng quê hương.

Đặc biệt, trong Chiến dịch Hòa Bình, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã thể hiện tinh thần không tiếc sức người, sức của cho chiến thắng. Đảng bộ, quân dân Hòa Bình đã tiếp nhận và phân phối đến từng đơn vị ngoài mặt trận hàng trăm tấn lương thực, vũ khí, đạn dược. Trong vòng trên 100 ngày diễn ra chiến dịch, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã huy động khoảng 200.000 ngày công phục vụ công tác vận chuyển, ủng hộ bộ đội 323 con bò, 200 con lợn, hàng nghìn cây tre, bương để làm lán trại, làm hàng trăm bè mảng giúp bộ đội vượt sông, suối... Trong đợt này có 291 thanh niên tòng quân, bổ sung cho quân đội.

Chiến dịch Hòa Bình đã mang lại ý nghĩa lịch sử to lớn. Đây là chiến thắng lớn nhất của ta sau chiến dịch Biên Giới (1950). Hành lang Đông - Tây của địch bị phá vỡ, âm mưu giành thế chủ động chiến lược của thực dân Pháp không thực hiện được.

Chiến thắng Hòa Bình đã tạo thế phát triển mới cho phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của các địa phương lân cận và trên chiến trường toàn quốc, cục diện chiến trường Bắc Bộ đã thay đổi có lợi cho ta. Địch bị dồn vào thế bị động theo cách đánh của ta, đẩy chúng đến nguy cơ bị tiêu diệt từng mảnh lớn.

Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình còn có ý nghĩa lớn về chính trị: Ta đã giải tán được nhiều tổ chức ngụy quyền và mở rộng được vùng tự do. âm mưu lập lại “Xứ Mường tự trị” của thực dân Pháp và bọn phản động bị thất bại hoàn toàn.

Chiến thắng Chiến dịch Hoà Bình thể hiện sự chỉ đạo đúng đắn, tài tình về nghệ thuật quân sự của Đảng, về sức mạnh của chiến tranh nhân dân: Chọn chiến trường thích hợp để tiêu diệt địch, đánh vào chỗ sơ hở, nơi hiểm yếu của địch, kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các địa bàn, các chiến trường, giữa ba thứ quân, giữa quân và dân...

Đảng bộ, quân dân các dân tộc Hòa Bình góp phần tích cực vào chiến thắng to lớn đó. Qua chiến dịch Hòa Bình, phong trào kháng chiến địa phương trưởng thành, vững mạnh thêm một bước.

Chiến công trong Chiến dịch Hoà Bình là thành tích nổi bật nhất của Đảng bộ, quân và dân các dân tộc tỉnh Hoà Bình trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Theo đó, nhân dân và LLVT tỉnh Hòa Bình đã vinh dự, tự hào được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

                                                                         H.N (TH)

                                         Theo Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hòa Bình (1929 - 2010)

 

 

Các tin khác


Bài 3: Đặc quyền của lang - đạo và quyền tối thượng đề ra luật lệ, thâu tóm tư liệu sản xuất


(HBĐT) -Trên thực tế, lang - đạo nhất là lang kun chúa đất có những đặc quyền như sau:

Dấu ấn Bác Hồ về thăm Hòa Bình qua những tài liệu, hiện vật lịch sử

(HBĐT) - Chúng tôi có mặt tại buổi khai trương phòng trưng bày chuyên đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với tỉnh Hòa Bình” của Bảo tàng tỉnh vào những ngày cả nước có nhiều hoạt động chào mừng kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và tròn 70 năm ngày Bác lần đầu tiên về thăm tỉnh Hòa Bình (1947- 2017). Đây chính là hoạt động có ý nghĩa để tri ân và tưởng nhớ công ơn to lớn cùng những điều dạy bảo quý báu của Người đối với tỉnh ta.

 Bài 2: Nhận diện lang - đạo

(HBĐT) - Nhìn chung, các sử gia, học giả đều có chung nhận định rằng chế độ lang - đạo của người Mường phát triển cực thịnh vào thời Lê và bị đàn áp suy yếu sau cuộc khởi nghĩa Lê Duy Lương. Vua Minh Mạng (trị vì 1820 - 1841) đã có những cải cách quan trọng như: Chia lại các châu, mường ở miền núi, tước bỏ quyền thế tập cha truyền con nối, tước bỏ các đặc quyền của các tù trưởng ở miền núi, trong đó có lang - đạo ở vùng Mường. Tuy vậy, chế độ lang - đạo vẫn dai dẳng tồn tại và chỉ bị đánh đổ khi cách mạng tháng 8 - 1945 thành công, chế độ mới được thiết lập.

Tìm hiểu về nhà lang trong xã hội cổ truyền Mường

(HBĐT) - Theo quan điểm chung của giới nghiên cứu cho thấy, chế độ lang - đạo ra đời trong xã hội Mường từ giai đoạn đồ đồng chuyển sang giai đoạn đồ sắt, tương ứng giai đoạn văn hóa Đông Sơn. Nhờ có công cụ bằng kim khí nên năng suất lao động tăng cao, của cải trong xã hội dồi dào hơn trước. Hình thức sở hữu tư nhân chiếm ưu thế tuyệt đối, xã hội phân chia giai cấp diễn ra mạnh mẽ. Giai đoạn đầu khi mới hình thành, chế độ lang - đạo còn gần gũi với nhân dân, đóng vai trò như là tù trưởng, thủ lĩnh, phù hợp với trình độ sản xuất, quản lý xã hội khi đó. Trải qua hàng trăm năm, chế độ lang - đạo tập trung cho mình quyền tuyệt đối về sở hữu tư liệu sản xuất, thậm chí cả người dân của mình, dẫn đến độc quyền trong phân phối sản phẩm, độc quyền trong việc đề ra các luật lệ. Dân Mường phải lệ thuộc và trở thành nông nô, lao động cho các nhà lang. Chế độ này dần thoái hóa, trở nên cực kỳ bảo thủ, phản động cản trở bước tiến của xã hội và dần trở nên mâu thuẫn, đối lập sinh tử với dân Mường và bị đánh đổ trong cách mạng tháng 8/1945. Loạt bài viết này xin lược giới thiệu về nhà lang và chế độ nhà lang nhằm cung cấp cho bạn đọc cái nhìn tuy sơ lược nhưng toàn về chế độ này trong xã hội Mường trước tháng 8/1945.

Chuyện kể về anh hùng Bùi Văn Hợp

(HBĐT) - Con đường bê tông rợp bóng tre đưa chúng tôi đến ngôi nhà nhỏ tại xóm Chiềng 1, xã Vĩnh Đồng, huyện Kim Bôi - nơi anh hùng Bùi Văn Hợp sinh ra và lớn lên. Kín những khoảng tường trong ngôi nhà nhỏ là rất nhiều giấy khen, huân, huy chương. 45 năm sau ngày anh ngã xuống, câu chuyện về anh vẫn có sức sống mãnh liệt, là niềm tự hào của mảnh đất Mường Động anh hùng.

Truyền thống “ đi trước mở đường” tiếp bước tương lai

(HBĐT) - Địa bàn tỉnh là đầu mối giao thông tỏa đia mọi miền đất nước có tầm đặc biệt quan trọng trong thời chiến tranh. Quốc lộ 6 nối liền Thủ đô với các tỉnh đồng bằng qua miền Trung du lên Tây Bắc, sang Lào, vào các tỉnh khu 4, đến chiến trường miền Nam. Trục đường 6 nối liền quốc lộ 21A, 12A, 21B, quốc lộ 15, tất cả hình thành hệ thống GTVT liên hoàn. Trên các tuyến có 5 bến phà là: Bờ, Rút, Thia, Vụ Bản, Chi Nê. Trên các tuyến giao thông có các cầu, cống lớn, nhiều nhịp, khẩu độ hàng chục mét, có nhiều đoạn qua đèo hiểm trở bên núi, bên sông như dốc Chó Treo, đèo Hút Gió…Đó là những trọng điểm xung yếu được xác định là “yết hầu” của tuyến giao thông trên địa bàn, cũng là trọng điểm đánh phá liên tục của giặc Mỹ trong chiến tranh.