Người Mường Vang vẫn giữ phong tục tập quán  “Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui”. Trong ảnh: Lợn được đem thui trước khi đem chia phần cho các nhà ăn đụng.

Người Mường Vang vẫn giữ phong tục tập quán “Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui”. Trong ảnh: Lợn được đem thui trước khi đem chia phần cho các nhà ăn đụng.

(HBĐT) - Chưa năm nào tôi bỏ lỡ “ăn đụng lợn” trong dịp Tết của người Mường Vang quê tôi. Năm nay cũng vậy, khi nghe bố tôi bảo ngày 28 tết sẽ về quê ăn đụng lợn ở nhà ông Huy, xã Chí Đạo (Lạc Sơn), trong lòng tôi lại thấy háo hức, chộn rộn lạ thường.

 

Lúc còn nhỏ, thời đó còn nghèo khó, lũ trẻ con chúng tôi chờ đến ngày ăn đụng lợn chỉ với ý nghĩ đơn giản là được ăn thịt lợn thoải mái. Giờ cuộc sống no đủ hơn, suy nghĩ cũng đã lớn hơn, tôi mới thực sự hiểu và trân trọng biết bao tục lệ của quê hương. Đụng lợn đã trở thành một phong tục đẹp với bao ý nghĩa lớn lao: ngày ăn đụng lợn là ngày vui vẻ, ấm áp trong sự sẻ chia, đoàn tụ của cả gia đình; là sự tin tưởng, đoàn kết của hàng xóm, láng giềng; là dịp để chúng tôi khám phá và thấm sâu hơn bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc mình.  

Mỗi năm về quê ăn Tết là mỗi lần tôi có những cảm xúc thật đặc biệt. Tết ở quê không ồn ào như ở phố thị, không rực rỡ cờ hoa mà sâu lắng, ngọt ngào. Bức tranh quê hương ngày Tết với mái nhà sàn thấp thoáng bên cây đào phai nở hoa báo hiệu mùa xuân đã tới rất gần. Với không khí rộn ràng của những người phụ nữ ngược xuôi sắm sửa, trang hoàng nhà cửa và nụ cười hào hứng cùng sự trông ngóng của lũ trẻ nhỏ làm cho Tết ở quê thật ấn tượng, đặc biệt là không khí không thể nào quên về ngày ăn đụng lợn. Từ sáng sớm, những người phụ nữ đã sắm sửa bếp núc, xoong nồi, ngâm gạo, chặt lá chuối... Những người đàn ông thì leng keng với dao, thớt chuẩn bị cho bữa ăn Tết đầu tiên đón chào năm mới (với người Mường ở quê tôi, bữa ăn ngày thịt lợn được coi là bữa ăn Tết đầu tiên của năm mới đầy ý nghĩa).  

Câu hỏi đầu tiên mà mỗi năm tôi đến ăn đụng lợn ở một gia đình là: “Năm nay có mấy nhà ăn đụng? Con lợn bao nhiêu cân?”... và những câu hỏi thăm về một năm qua của gia chủ có lợn thịt. Sự quan tâm đó của tôi cũng chính là định nghĩa về tục ăn đụng lợn, tức là, mấy nhà gần nhau hoặc mấy anh em cùng chung nhau thịt một con lợn để ăn Tết. Con lợn được chọn để ăn đụng được nuôi từ trước Tết 5 - 6 tháng, có khi là cả năm và hơn thế. Con lợn này được nuôi cẩn thận như: chọn giống thuần chủng, không nuôi tăng trọng để thịt thơm, ngon. Chủ nhà sẽ thông báo trọng lượng của con lợn để các nhà có nhu cầu ăn đụng đăng ký, góp công, góp của và chia phần trong ngày ăn đụng.  

Thực ra, ở quê tôi trước đây, trong dịp Tết, thường thì mỗi nhà sẽ thịt 1 con lợn để ăn. Theo như người già ở quê cho biết, thời đó khó khăn, xa chợ, phương tiện đi lại không có nên đa số người dân chỉ thực sự được no 3 ngày Tết. Chính vì vậy, nhà nào cũng thịt lợn để con cháu trong gia đình được ăn no và phần thịt còn dư lại sẽ chế biến thành các món thịt muối, thịt hun khói có thể để lâu dài ra giêng ăn dần. Ngoài ra cũng còn một lý do quan trọng nữa là trong mâm cúng gia tiên phải có thủ lợn nên ngày đó, nhà nào cũng phải thịt lợn như vậy. Những ngày xa xưa đó không có tục ăn đụng lợn nhưng vẫn có bữa ăn Tết thịt lợn giống như bữa ăn đụng lợn ngày nay. Các nhà sẽ lần lượt thịt lợn sớm để mời anh em, hàng xóm cùng sang ăn bữa ăn Tết đầu tiên với nhà mình. (Đó cũng là một trong những lý do trước đây quê tôi ăn Tết hàng tháng trời).

Nhân dịp đón Tết Nhâm Thìn, tôi lại nhớ về bữa ăn đụng lợn ở nhà ông Huy cũng thật vui vẻ và ấm cúng. Từ sáng ngày 28, con lợn gần 40 kg ông Huy nuôi thả rông gần 1 năm được đưa làm sạch, thui vàng và chia làm 3 phần đều nhau. Riêng nhà ông Huy được ưu tiên cái thủ để đặt bàn thờ cúng tổ tiên. Phần tiết canh, một phần thịt, bộ lòng được chế biến để liên hoan bữa đụng lợn. Bữa ăn Tết sớm thật ngon và ý nghĩa với những lời cảm ơn gia chủ nuôi được con lợn ngon cùng những lời chúc mừng năm mới may mắn, phát tài, phát lộc... Không khí Tết sớm đến với gia chủ thật hân hoan!

 

 

                                                                 Hồng Duyên

 

Các tin khác


Dấu ấn Bác Hồ về thăm Hòa Bình qua những tài liệu, hiện vật lịch sử

(HBĐT) - Chúng tôi có mặt tại buổi khai trương phòng trưng bày chuyên đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với tỉnh Hòa Bình” của Bảo tàng tỉnh vào những ngày cả nước có nhiều hoạt động chào mừng kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và tròn 70 năm ngày Bác lần đầu tiên về thăm tỉnh Hòa Bình (1947- 2017). Đây chính là hoạt động có ý nghĩa để tri ân và tưởng nhớ công ơn to lớn cùng những điều dạy bảo quý báu của Người đối với tỉnh ta.

 Bài 2: Nhận diện lang - đạo

(HBĐT) - Nhìn chung, các sử gia, học giả đều có chung nhận định rằng chế độ lang - đạo của người Mường phát triển cực thịnh vào thời Lê và bị đàn áp suy yếu sau cuộc khởi nghĩa Lê Duy Lương. Vua Minh Mạng (trị vì 1820 - 1841) đã có những cải cách quan trọng như: Chia lại các châu, mường ở miền núi, tước bỏ quyền thế tập cha truyền con nối, tước bỏ các đặc quyền của các tù trưởng ở miền núi, trong đó có lang - đạo ở vùng Mường. Tuy vậy, chế độ lang - đạo vẫn dai dẳng tồn tại và chỉ bị đánh đổ khi cách mạng tháng 8 - 1945 thành công, chế độ mới được thiết lập.

Tìm hiểu về nhà lang trong xã hội cổ truyền Mường

(HBĐT) - Theo quan điểm chung của giới nghiên cứu cho thấy, chế độ lang - đạo ra đời trong xã hội Mường từ giai đoạn đồ đồng chuyển sang giai đoạn đồ sắt, tương ứng giai đoạn văn hóa Đông Sơn. Nhờ có công cụ bằng kim khí nên năng suất lao động tăng cao, của cải trong xã hội dồi dào hơn trước. Hình thức sở hữu tư nhân chiếm ưu thế tuyệt đối, xã hội phân chia giai cấp diễn ra mạnh mẽ. Giai đoạn đầu khi mới hình thành, chế độ lang - đạo còn gần gũi với nhân dân, đóng vai trò như là tù trưởng, thủ lĩnh, phù hợp với trình độ sản xuất, quản lý xã hội khi đó. Trải qua hàng trăm năm, chế độ lang - đạo tập trung cho mình quyền tuyệt đối về sở hữu tư liệu sản xuất, thậm chí cả người dân của mình, dẫn đến độc quyền trong phân phối sản phẩm, độc quyền trong việc đề ra các luật lệ. Dân Mường phải lệ thuộc và trở thành nông nô, lao động cho các nhà lang. Chế độ này dần thoái hóa, trở nên cực kỳ bảo thủ, phản động cản trở bước tiến của xã hội và dần trở nên mâu thuẫn, đối lập sinh tử với dân Mường và bị đánh đổ trong cách mạng tháng 8/1945. Loạt bài viết này xin lược giới thiệu về nhà lang và chế độ nhà lang nhằm cung cấp cho bạn đọc cái nhìn tuy sơ lược nhưng toàn về chế độ này trong xã hội Mường trước tháng 8/1945.

Chuyện kể về anh hùng Bùi Văn Hợp

(HBĐT) - Con đường bê tông rợp bóng tre đưa chúng tôi đến ngôi nhà nhỏ tại xóm Chiềng 1, xã Vĩnh Đồng, huyện Kim Bôi - nơi anh hùng Bùi Văn Hợp sinh ra và lớn lên. Kín những khoảng tường trong ngôi nhà nhỏ là rất nhiều giấy khen, huân, huy chương. 45 năm sau ngày anh ngã xuống, câu chuyện về anh vẫn có sức sống mãnh liệt, là niềm tự hào của mảnh đất Mường Động anh hùng.

Truyền thống “ đi trước mở đường” tiếp bước tương lai

(HBĐT) - Địa bàn tỉnh là đầu mối giao thông tỏa đia mọi miền đất nước có tầm đặc biệt quan trọng trong thời chiến tranh. Quốc lộ 6 nối liền Thủ đô với các tỉnh đồng bằng qua miền Trung du lên Tây Bắc, sang Lào, vào các tỉnh khu 4, đến chiến trường miền Nam. Trục đường 6 nối liền quốc lộ 21A, 12A, 21B, quốc lộ 15, tất cả hình thành hệ thống GTVT liên hoàn. Trên các tuyến có 5 bến phà là: Bờ, Rút, Thia, Vụ Bản, Chi Nê. Trên các tuyến giao thông có các cầu, cống lớn, nhiều nhịp, khẩu độ hàng chục mét, có nhiều đoạn qua đèo hiểm trở bên núi, bên sông như dốc Chó Treo, đèo Hút Gió…Đó là những trọng điểm xung yếu được xác định là “yết hầu” của tuyến giao thông trên địa bàn, cũng là trọng điểm đánh phá liên tục của giặc Mỹ trong chiến tranh.

Xã Thu Phong âm vang chiến công bắn rơi máy bay Mỹ

(HBĐT)- Mảnh đất anh hùng Thu Phong (Cao Phong) đang từng ngày đổi thay. Thu Phong phủ một màu xanh bạt ngàn của những đồi cam. Trái cam vàng đã đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc nhưng trong tiềm thức của người dân nơi đây luôn âm vang chiến công oanh liệt dùng súng trường bắn rơi máy bay Mỹ ngày 20/7/1966 của 5 dân quân xã Thu Phong.