Những dòng văn tự cổ được khắc trên đá đã ghi lại chủ nhân của khu mộ cổ là Đô đốc Uy lộc hầu Đinh Công Kỷ.

Những dòng văn tự cổ được khắc trên đá đã ghi lại chủ nhân của khu mộ cổ là Đô đốc Uy lộc hầu Đinh Công Kỷ.

(HBĐT) - Nói đến chế độ lang đạo ở Kim Bôi là nói đến dòng họ lang Đinh Công ở Chiềng Động (Vĩnh Đồng). Lang ở Chiềng Động là người hoàng tộc, được ban tước hiệu “Phó vương một đời và làm vua xứ Mường 10 đời”. Tuy vậy, cho đến giờ vẫn còn những câu chuyện ít biết về dòng dõi quan lang nổi tiếng ở vùng Mường Động này.

 

Trong lịch sử, lang cun Chiềng Động là một trong những lang có thế lực về chính trị, kinh tế của đất Mường Hòa Bình. Theo Công sứ tỉnh Hòa Bình thời Pháp thuộc Pierre Grosin viết trong cuốn “Tỉnh Mường Hòa Bình” thì:  lang ở Mường Chiềng là người hoàng tộc, được ban tước hiệu “Phó vương một đời và làm vua xứ Mường 10 đời”. ông Bùi Đức òm, Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch UBND xã Vĩnh Đồng cho biết: Những cứ liệu trên tuy chỉ là truyền thuyết, song cũng phần nào nói lên thế lực của dòng họ nhà lang ở Mường Chiềng dưới chế độ phong kiến lang đạo.

 

Khi chúng tôi ngỏ ý muốn tìm hiểu về dòng dõi quan lang vùng Mường Động, cả ông Bùi Đức òm, Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch UBND xã và anh Bùi Văn Hùng, Thường trực Đảng ủy xã Vĩnh Đồng (Kim Bôi) đều chỉ đến gia đình ông Đinh Công Dũng, hậu duệ đời thứ 21 của dòng họ Đinh Công ở Mường Động. Trước khi đến nhà ông Đinh Công Dũng, ông Bùi Đức òm chia sẻ: Dòng họ Đinh Công ở Vĩnh Đồng thực ra là một dòng họ có công phò vua giúp nước và trong việc cai quản dân chúng. Vậy nhưng trong suốt những năm qua,  họ luôn mặc cảm là bởi những câu chuyện thêu dệt xung quanh khu mộ Đống Thếch của dòng họ, về sự khét tiếng tàn bạo khi người nhà lang chết chôn sống 50 người con gái và 50 người con trai để phục dịch nấu cơm, thổi sáo cho người nhà lang ở cõi “Mường ma”. Đó là những câu chuyện không có thật được người đời thêu dệt để lý giải về sự linh thiêng, khiếp sợ của người dân với “thánh địa Mường ma” của nhà lang mà thôi.

 

Khu mộ đá Đống Thếch được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia là niềm tự hào của dòng họ Đinh Công.

 

Quanh co theo con đường bê tông, ngay lối vào nhà ông Đinh Công Dũng, chúng tôi đã gặp một người đàn ông có nước da đen sạm và mái tóc đã bạc quá nửa đầu. Cuộc mưu sinh hàng ngày giờ đã làm cho con người mới ngoài 50 tuổi, thuộc dòng dõi nhà lang uy quyền khi xưa trở nên khắc khổ. Câu chuyện giữa chúng tôi với ông Dũng dù đã bước qua tuần trà thứ 3 nhưng ông vẫn khăng khăng từ chối không cung cấp thông tin vì trước đó đã có nhiều người đưa thông tin sai lệch. Phải đến khi được ông Bùi Văn Binh, nguyên là Chủ tịch UBND xã Vĩnh Đồng có lời, khi ấy ông Dũng mới miễn cưỡng mở lòng. Theo cuốn gia phả của dòng họ Đinh Công được phụng soạn vào năm Cảnh Hưng thứ 25 (1724) thì cụ tổ của dòng họ Đinh ở Mường Động là Đinh Như Lệnh (sinh năm 1365) vào khoảng cuối đời vua Trần Dụ Tông (1341-1369) sinh được 2 người con là Đinh Quý Khiêm và Đinh Văn Hưng. ông Đinh Quý Khiêm là con trưởng, sinh vào cuối đời vua Trần Thuận Tông (1388 - 1398) được nối nghiệp cha làm Thổ tù Mường Động. Gặp thời Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn năm 1426 mang quân ra Bắc đánh đuổi giặc Minh xâm lược, ông Khiêm đã đưa quân “sơn dõng” ra phò vua Lê đánh giặc và lập được nhiều chiến công. Quân “sơn dõng” của Đinh Quý Khiêm đã tham gia các trận đánh nổi tiếng như Tốt Động, Chúc Động, Cổ Lãm - Ninh Kiều và vây hãm thành Đông Quan... buộc quân Minh phải đầu hàng rút về nước. Sau khi dẹp giặc, Lê Lợi lên ngôi vua đã phong chức “Phụ quốc tướng quân Khiêm nghĩa hầu” cho Đinh Quý Khiêm và cho cai quản suốt các vùng xứ Sơn Tây. Tiếp sau ông Khiêm, con trai là Đinh Như Luật và các các thế hệ tiếp nối nghiệp làm Thổ tù cai quản nhân dân vùng Mường Động kéo dài gần 100 năm. Đến đời ông Đinh Văn Cương (sinh vào khoảng giữa thế kỷ 16, thời kỳ Lê - Mạc phân tranh), dòng họ Đinh Công mới đạt đến đỉnh cao về quyền lực, tước vị triều chính. Cuộc chiến giữa nhà Lê với nhà Mạc đã kéo dài gần 50 năm, sau khi Tiết chế Trịnh Tùng diệt được Mạc Mậu Hợp vào tháng chạp năm Nhâm Thìn (1592), tình hình trong nước đã biến chuyển nghiêng về phía nhà Lê. Tháng 3 năm Quý Tỵ (1593), vua Lê Thế Tông đã từ Thọ Xuân - Thanh Hóa ra Bắc. Các địa phương xa giá đi qua đều phải có tráng đinh chờ đón để đi theo phục vụ chuyên chở hành trang của nhà vua. ông Đinh Văn Cương thấy đây là một dịp tốt để tiến thân nên đã xin theo nhà vua. Khi đoàn người đi đến vùng núi hoang vu bất thần có 4 thích khách từ trong bụi rậm nhảy ra với ý đồ sát hại nhà vua. Cả 4 thích khách đều có võ nghệ cao cường, quân lính hộ vệ không chống trả nổi. Tính mạng nhà vua nguy cấp, thấy vậy, ông Cương liều giằng lấy ngọn giáo của quân tiền vệ xông lên giết chết 4 thích khách cứu vua thoát nạn. Kịp thời hộ giá, cứu nhà vua thoát khỏi nguy nan, ông được vua phong chức “Tiền quân hộ úy”. Sau khi xa giá về đến Thăng Long, ông được vua Lê cho sang dinh Tiết chế Trịnh Tùng để đi đánh giặc lập công. Lập nhiều chiến công, ông được sắc phong “Phụ quốc Thượng tướng quân tước Uy lộc hầu”  trấn giữ ở đạo Kinh Bắc (Bắc Ninh) hơn 7 năm. Khi tuổi đã cao, ông xin về nghỉ ở “Bảo Minh nông”, nhà vua sắc ban cho ông được cai quản 7 xã dân binh. Sau 20 năm đóng giữ đất “Bảo Minh nông”, ông được sắc phong tước “Quận công” giữ chức “Phiên thần” cai quản nhân dân địa phương. Từ đây dòng họ Đinh mới đệm thêm chữ Công sau họ Đinh cho con trai để tưởng nhớ đến việc thừa hưởng công lao tổ tiên để lại. Sau ông Cương, con trai Đinh Công Kỷ, đời thứ 8 (SN 1582) tiếp nối việc cai quản vùng Mường Động. Nối nghiệp cha, ông Đinh Công Kỷ cầm quân chiến đấu dưới thời của vua Lê Thần Tông. ông lập được nhiều chiến công và cũng là người có công giúp vua Lê Trung Hưng xây dựng triều chính, trở thành rường cột của triều đình nên được sắc phong chức “Đô đốc oai lộc hầu” đời đời nối nghiệp làm “phiên thần” cai quản dân binh 7 xã. Con cháu Đinh Công Kỷ lần lượt là Đinh Công Miên, Đinh Công Kích, Đinh Công Tham, Đinh Công Bàng, Đinh Công Trinh đều kế tục làm thổ tù cai quản dân binh 7 xã vùng Mường Động. Từ đời Đinh Công Trinh cho đến khi chính quyền cách mạng tuyên bố xóa bỏ chế độ lang đạo, dòng họ Đinh Công đã trải qua hàng chục đời nối tiếp cai quản vùng đất Mường Động. Nhiều biến cố đã xảy ra dẫn đến tranh đoạt ngôi vị, đánh nhau, chết chóc... Đúng như nhận xét của viên Công sứ Pierre Grosin: Lịch sử chế độ quan lang đầy rẫy những cuộc tranh giành, giết chóc đẫm máu.

 

Cuốn gia phả với văn tự cổ màu vàng úa ghi lại những vinh hiển và thăng trầm của dòng họ Đinh Công ở xứ Mường Động.

 

Dẫn chúng tôi ra khu mộ đá Đống Thếch, mân mê từng gợn đá, lướt những ngón tay khô gầy theo những văn tự cổ theo thời gian đã mờ dần trên những cột đá trong nỗi khắc khoải hoài cổ, ông Đinh Công Dũng mở lòng: Tính từ đời cụ tổ Đinh Như Lệnh, cho đến nay dòng họ Đinh Công ở Mường Động  đã trải qua, tiếp nối đến đời thứ 23 và còn tiếp tục phát triển nữa. Dù trải qua những thăng trầm trong cuộc sống, nhưng điều làm chúng tôi tự hào nhất là dòng họ đã để lại cho đời sau một tài sản vô giá về văn hóa đó là khu mộ đá Đống Thếch mà chủ nhân là Đô đốc Uy lộc hầu Đinh Công Kỷ. Do có công với nước nên khi chết ông được mai táng theo tước hầu, quan tài làm bằng gỗ trám đen, ngoài sơn son thếp vàng. Đặc biệt, vua Lê đã cho chuyển nhiều phiến đá xanh từ Thanh Hóa ra làm cột mồ. Theo thống kê của Bảo tàng Hòa Bình, đợt khảo sát và khai quật vào năm 1984, đã thu được hàng trăm hiện vật phong phú. Đặc biệt, với những giá trị của mình, năm 1996 khu mộ cổ Đống Thếch đã được Bộ VH -TT công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

 

Thêm một điều đặc biệt, ở đời thứ 19 dòng họ Đinh Công, anh em nhà ông Đinh Công Huy, Đinh Công Niết sau khi giác ngộ cách mạng đã từ bỏ tước vị quan lang ở vùng Mường Cời (Tân Vinh - Lương Sơn) trở thành những chí sỹ yêu nước. Thậm chí ông Đinh Công Huy còn từng giữ chức vụ Phó Chủ tịch ủy ban kháng chiến tỉnh Hòa Bình và có cả một tiểu đoàn mang tên Đinh Công Niết, hay một Đinh Công Đốc như một dũng tướng cưỡi ngựa, khoác gươm - súng đi giải giáp quân đội Nhật ở các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Thanh Hóa.

 

Có thể nói, không nằm ngoài quy luật thịnh - suy tất yếu, dòng họ Đinh Công ở Mường Động cũng đã trải qua biết bao biến cố, thăng trầm. Trong dòng chảy ấy dù lúc yên bình hay khi dậy sóng, họ cũng đã trở thành một phần tất yếu của lịch sử đất Mường, dân tộc Mường ở Hòa Bình.

 

 

                                                                               Mạnh Hùng

   

 

 

Các tin khác

Không có hình ảnh

Tìm hiểu về nhà lang trong xã hội cổ truyền Mường

(HBĐT) - Theo quan điểm chung của giới nghiên cứu cho thấy, chế độ lang - đạo ra đời trong xã hội Mường từ giai đoạn đồ đồng chuyển sang giai đoạn đồ sắt, tương ứng giai đoạn văn hóa Đông Sơn. Nhờ có công cụ bằng kim khí nên năng suất lao động tăng cao, của cải trong xã hội dồi dào hơn trước. Hình thức sở hữu tư nhân chiếm ưu thế tuyệt đối, xã hội phân chia giai cấp diễn ra mạnh mẽ. Giai đoạn đầu khi mới hình thành, chế độ lang - đạo còn gần gũi với nhân dân, đóng vai trò như là tù trưởng, thủ lĩnh, phù hợp với trình độ sản xuất, quản lý xã hội khi đó. Trải qua hàng trăm năm, chế độ lang - đạo tập trung cho mình quyền tuyệt đối về sở hữu tư liệu sản xuất, thậm chí cả người dân của mình, dẫn đến độc quyền trong phân phối sản phẩm, độc quyền trong việc đề ra các luật lệ. Dân Mường phải lệ thuộc và trở thành nông nô, lao động cho các nhà lang. Chế độ này dần thoái hóa, trở nên cực kỳ bảo thủ, phản động cản trở bước tiến của xã hội và dần trở nên mâu thuẫn, đối lập sinh tử với dân Mường và bị đánh đổ trong cách mạng tháng 8/1945. Loạt bài viết này xin lược giới thiệu về nhà lang và chế độ nhà lang nhằm cung cấp cho bạn đọc cái nhìn tuy sơ lược nhưng toàn về chế độ này trong xã hội Mường trước tháng 8/1945.

Chuyện kể về anh hùng Bùi Văn Hợp

(HBĐT) - Con đường bê tông rợp bóng tre đưa chúng tôi đến ngôi nhà nhỏ tại xóm Chiềng 1, xã Vĩnh Đồng, huyện Kim Bôi - nơi anh hùng Bùi Văn Hợp sinh ra và lớn lên. Kín những khoảng tường trong ngôi nhà nhỏ là rất nhiều giấy khen, huân, huy chương. 45 năm sau ngày anh ngã xuống, câu chuyện về anh vẫn có sức sống mãnh liệt, là niềm tự hào của mảnh đất Mường Động anh hùng.

Truyền thống “ đi trước mở đường” tiếp bước tương lai

(HBĐT) - Địa bàn tỉnh là đầu mối giao thông tỏa đia mọi miền đất nước có tầm đặc biệt quan trọng trong thời chiến tranh. Quốc lộ 6 nối liền Thủ đô với các tỉnh đồng bằng qua miền Trung du lên Tây Bắc, sang Lào, vào các tỉnh khu 4, đến chiến trường miền Nam. Trục đường 6 nối liền quốc lộ 21A, 12A, 21B, quốc lộ 15, tất cả hình thành hệ thống GTVT liên hoàn. Trên các tuyến có 5 bến phà là: Bờ, Rút, Thia, Vụ Bản, Chi Nê. Trên các tuyến giao thông có các cầu, cống lớn, nhiều nhịp, khẩu độ hàng chục mét, có nhiều đoạn qua đèo hiểm trở bên núi, bên sông như dốc Chó Treo, đèo Hút Gió…Đó là những trọng điểm xung yếu được xác định là “yết hầu” của tuyến giao thông trên địa bàn, cũng là trọng điểm đánh phá liên tục của giặc Mỹ trong chiến tranh.

Xã Thu Phong âm vang chiến công bắn rơi máy bay Mỹ

(HBĐT)- Mảnh đất anh hùng Thu Phong (Cao Phong) đang từng ngày đổi thay. Thu Phong phủ một màu xanh bạt ngàn của những đồi cam. Trái cam vàng đã đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc nhưng trong tiềm thức của người dân nơi đây luôn âm vang chiến công oanh liệt dùng súng trường bắn rơi máy bay Mỹ ngày 20/7/1966 của 5 dân quân xã Thu Phong.

Nhìn lại đôi nét lịch sử huyện Lạc Sơn, văn hóa Mường qua một bộ sưu tập ảnh quý

(HBĐT) - Hiện nay, tại làng Chiềng Vang ở huyện Lạc Sơn, trong gia đình ông Quách Phẩm còn lưu giữ hơn 100 bức ảnh đen trắng được chụp từ những năm 1930 - 1940 của thế kỷ XX, có giá trị về nhiều mặt. Qua thông tin các bức ảnh có thể cho ta thấy được phần nào về văn hóa, đời sống của người Mường trong thời Pháp thuộc. Trải qua nhiều thăng trầm của thời cuộc, lịch sử tác động đến gia đình cộng với sự dịch chuyển nhiều lần, qua tay nhiều người, chất liệu ảnh cơ bản in trên giấy nên nhiều ảnh đã phai, ố, bong tróc, tuy nhiên có nhiều bức ảnh còn giữ được những nét cơ bản dễ nhận biết.

Đồng chí Lê Duẩn - tấm gương người chiến sỹ cộng sản kiên cường

(HBĐT) - Sau khi đất nước thống nhất, cả nước cùng tiến lên CNXH, đồng chí Lê Duẩn đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm xác định và hoàn chỉnh đường lối cách mạng XHCN ở nước ta. Đường lối ấy thể hiện những tư tưởng lớn của đồng chí về giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; về nắm vững chuyên chính vô sản và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động; về tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt, coi công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ; về nền văn hóa mới và con người mới XHCN; về cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý...