Truyện ngắn của Bùi Huy

 

Đã bao lần ông đến dãy núi Sơn Vĩ này. Lần đi một mình, lần cùng gia đình, lần cùng các đồng đội của cha, nhất là khi trên dãy núi cao, lộng gió đó đã có thêm những quần thể du lịch đẹp, hấp dẫn du khách. Một số dự án tiếp tục được triển khai, như cáp treo, điểm nhảy dù, khinh khí cầu… Trên đó, còn có ngôi chùa cổ có tuổi đời mấy trăm năm, đã được phục dựng, mùa này đỏ ối màu hoa gạo la đà mái chùa. Vào mùa lễ hội, du khách đến chiêm bái đông nghịt. Ngày mẹ ông còn khỏe, ông cũng từng đưa bà đến đây… Nhưng điều thôi thúc khiến ông lên đường tìm đến chính là những dấu tích lịch sử, những hang động còn dấu vết đạn pháo và ám khói bom. Ngay dưới chân núi là tấm bia ghi lại những trận đánh, chiến công của quân giải phóng cùng lực lượng du kích trong những năm kháng chiến. Tấm biển cũng đã cũ kỹ như năm tháng vậy… Mỗi khi đứng trước tấm biển đó, ông bỗng thấy như có luồng sinh lực mới chạy dọc cơ thể, thấy nóng bừng. Thoảng trong không gian có tiếng sóng biển ầm ào, tiếng lá rừng, tiếng của gió lộng khơi xa va vào miệng những hang động, những phiến đá lớn thấy gần gũi, thân quen vô cùng…

Một dãy núi khá cao, dài chừng 200 m mọc lên giữa một đồng bằng, kế bên là bờ biển và một cảng biển nước sâu. Lên đến đỉnh, tầm mắt được mở ra vô cùng: Biển cả bao la sóng vỗ, những con tàu tấp nập ra vào cầu cảng; phía sau lưng ngọn núi là một thị xã nhỏ xinh cổ kính. Nhìn nhịp sống êm đềm nơi này, với màu xanh bạt ngàn của cây, của biển xanh và những con đường mới mở thoáng rộng về xa, không ai nghĩ nơi đây từng diễn ra những trận đánh từng được đưa vào sách, báo.

Bom, đạn, chiến tranh… và cha… Một chút gì dâng lên nghẹn ngào trong lòng… Hồi mẹ còn tỉnh táo, bà nói với hai vợ chồng anh: "Mẹ và các con đã có bao lần vào Nam tìm hài cốt bố các con… nhưng đều không tìm thấy. Nay mẹ không thể đi được nữa rồi, vợ chồng con và nhà Út đừng dừng lại nhé…”. Ông nghẹn lòng khi nhìn dáng hình còm cõi của bà. Mớ tóc thì trắng như cước và mỏng dính. Đâu rồi hình ảnh người mẹ mạnh khỏe, vai rộng gánh lúa quần quật từ ruộng về sân kho HTX năm nào. Nhiều đêm thanh vắng, một mình bà vò lúa, sàng sảy, chuyển rơm đi phơi… để sáng mai còn phơi đón nắng. Tuổi thơ của hai anh em nhà ông có chút buồn vắng vì thiếu hơi ấm của cha, nhưng lại có thêm bao ý chí, quyết tâm vì có mẹ ở bên. Những năm 60 của thế kỷ trước, trai tráng lên đường tòng quân như đi hội. Cha ông cũng quyết chí ra đi cùng mọi người. Ông, một đứa trẻ 3 tuổi và cô em gái 1 tuổi chỉ biết cười cười khi thấy mọi người khóc trong buổi cha lên đường. Lớn lên chút nữa, cũng chỉ biết cha đang ngoài mặt trận, cùng bao câu chuyện về cha và tấm ảnh đen trắng được đưa vào tấm khung đặt ở đầu giường của ba mẹ con. Cơm khoai, cơm sắn thôi, nhưng những đứa trẻ sinh ra và lớn lên trong chiến tranh cũng lớn dần, rắn rỏi. Còn bà, nay đi làm thủy lợi "đội 202”, mai đi đào hào giao thông, vác đạn cho khẩu đội trung liên phòng không của dân quân xã ở mé đồi sát cầu, rồi mẹ cùng đội văn nghệ xã đi biểu diễn cho các đơn vị bộ đội đóng quân ở bìa rừng làng bên. Giọng hát dân ca của mẹ được nhiều người lính mang theo vào chiến trường bởi sự mộc mạc, da diết và có nhạc cảm cao. Họ cũng biết rằng, bà có người chồng đang đi chiến đấu ở miền Nam… Điều kỳ lạ là suốt quãng đời niên thiếu đến lúc trưởng thành, chưa bao giờ ông thấy mẹ ốm lấy một ngày. Có lần, đi làm về, thấy mẹ ngồi dựa lưng vào gốc sấu bên hiên nhà, ông hỏi, bà chỉ phân bua: "Mẹ ngồi đây cho mát tý thôi”. Ngồi nghỉ mát sao mắt nhắm nghiền, thở dồn dập vậy...

Rồi cái ngày ấy cũng đã đến, mẹ ông ngất lên ngất xuống. Anh em nhà ông được mọi người dìu đến lễ truy điệu. Hương khói nghi ngút... 2 anh em chạy đến bên mẹ. Tuy tuổi mới lớn, nhưng hồi đó, ông cũng đã có nhận thức khá rõ về vai trò của mình trong gia đình: Phải là cây gậy của mẹ, là chỗ dựa cho em gái đang tuổi nhõng nhẽo. Chính những ngày đó, ông được mẹ hướng dẫn cày những luống cày đầu tiên, còn em gái biết được động tác cấy mạ, động tác đặt dây khoai lang trên luống… Họ hàng, anh em cũng đến sửa giúp cho mẹ ngôi nhà đã bị dột, ngói vỡ… Thời gian là liều thuốc mầu nhiệm hàn gắn những nỗi đau, nhưng cũng chẳng thể lành lặn hẳn. Hòa Bình rồi, mỗi lần nghe ai đó nói câu chuyện đi tìm hài cốt người thân ở chiến trường là mẹ lại ngồi thất thần, nhìn mung lung về con đường dẫn về quốc lộ 1. Đàn lợn được mẹ chăm kỹ hơn, đàn gà cũng ngày một đông đúc. Mẹ hướng dẫn các con cách chăm đàn lợn con sau sinh. Mẹ bảo: "Chúng ta cùng cố gắng để có dịp đi đây, đi đó, tìm kiếm hài cốt cha”. Câu nói của mẹ theo ông suốt những năm tháng học trò, qua thời sinh viên, rồi đi làm. Công việc của ông cũng là một lợi thế để đi các nghĩa trang Nam Bắc. Rồi như một điều kỳ diệu của cuộc sống, trong một lần dành cả một tuần ở vùng đất Sơn Vỹ, qua các nghĩa trang xã, huyện nơi này, ông đã gặp người quản trang già. Sự tình cờ và những câu chuyện về tên tuổi, phiên hiệu, tấm ảnh của cha, người quản trang thốt lên: "Có phải con anh Tới ở tỉnh H? Anh Tới có vợ tên Thoan hát rất hay”. Điều kỳ diệu của cuộc sống… Người quản trang kéo anh ra khỏi căn phòng nhỏ và chỉ tay về dãy Sơn Vỹ: "Cả trung đội cối năm đó đều đã ở đó hòa thân mình vào đất núi, cây cỏ, hang động rồi”. Năm đó, khẩu đội được lệnh bí mật lên núi để xây dựng trận địa mà mục tiêu chính là một số tàu quân sự của đối phương ở cảng nước sâu kề bên”. Mang được vũ khí, khí tài lên núi là cả một sự kỳ công của bộ đội và du kích địa phương. Chính người quản trang đó đã có hàng tháng trời cùng bố anh đi điều nghiên trên các ngóc ngách Sơn Vỹ để có thể tìm được điểm đặt vũ khí, vừa bí mật, bất ngờ, vừa tránh được sự phản pháo của đối phương. Một trận đánh cảm tử bởi những con tàu của đối phương đầy ắp vũ khí, bom đạn chuẩn bị cho những đợt tấn công mới lên chiến khu… Trận đánh đạt được kết quả tốt nhưng toàn bộ trung đội đó và mấy xóm làng dưới chân núi phải hứng chịu những trận bom, pháo điên cuồng của đối phương. Sau khi vùng đất này được giải phóng, những đồng đội lên tìm lại trận địa năm xưa, tất cả đã bị xóa dấu vết bởi bom, bởi pháo… Sau này, đội quy tập của tỉnh cũng phá đá, mở đường nên không thể nào tìm được dù là mảnh xác vũ khí năm nào. Tan hoang hết cả… Các anh đã hòa lẫn đất đai, cây cỏ, núi đồi rồi…

Hành trang trở về Bắc của ông lần này có một hộp nhựa đựng đầy đất, đá dăm mà ông đã lấy từ Sơn Vỹ. Suốt hành trình, ông cứ ôm chặt túi hành lý mà thấy thân thương, trìu mến vô cùng. Dù sao, ông cũng đã gặp được cha ở đất này.


Các tin khác


Hè về bâng khuâng lũy tre làng

(HBĐT) - Làng tôi nằm ven sông, con sông đã đi vào ký ức tuổi thơ của thời trẻ thơ. Lũ chúng tôi thời đó có người đã hy sinh ở chiến trường Quảng Trị, người còn lại cũng ngoài 80. Phía bờ sông là lũy tre làng xào xạc khi gió lào thổi về.

Những người mẹ...

(HBĐT) - Vẫn nhớ lần đầu khi đến các Nghĩa trang liệt sỹ Quốc gia: A1 (Điện Biên), Trường Sơn, Đường 9 (Quảng Trị), Nghĩa trang liệt sỹ Vị Xuyên (Hà Giang), hay đọc các trang viết về những lần đi bốc mộ đồng đội ở Nghĩa trang Đức Cơ (Gia Lai) qua trang ký của nhà văn Đoàn Tuấn…

Cha và con

(HBĐT) - Một hôm, vợ chồng thằng cả có lời: - Xoan trên đồi đã cao lắm rồi bố ạ…Tôi biết như thế là nó muốn làm nhà, ra ở riêng. Người xem ngày giờ cho tôi động thổ là lúc tỉnh táo, tuy lúc lẩn thẩn nhớ nhớ, quên quên. Vốn là người chẳng tin vào tâm linh, tôi biến ông thành thứ mặt nạ che mắt gia đình.

Hè về lại nhớ mo cau

(HBĐT) - Bà nội từ vườn bước vào, trên tay lỉnh kỉnh mấy cái tàu cau vẫn còn tươi. Bố phụ bà lọc bỏ phần cuống và lá, còn lại phần thân rồi mang ra nắng phơi cho khô. Lúc thấy bà cầm tàu cau đi vào sân trong đầu tôi đã hiện lên hình ảnh những chiếc quạt mo cau xinh xắn, dễ thương vào mỗi dịp hè, mất điện bà vẫn thường hay lấy ra phe phẩy tạo làn gió mát.

Tình xưa

(HBĐT) - Đêm ở biển hóa ra còn lặng lẽ hơn ở làng quê. Lâu lắm tôi đã không còn hứng thú viết về tình yêu, cũng chẳng khoái viết về biển, sóng cứ ì oạp thì mặc sóng, tôi lết đôi dép tổ ong, tay đút túi quần bước đi, chưa bao giờ thấy cuộc đời nhàn nhã và thư thái đến thế.

Xem các tin đã đưa ngày:
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục