(HBĐT) - Địa bàn tỉnh là đầu mối giao thông tỏa đia mọi miền đất nước có tầm đặc biệt quan trọng trong thời chiến tranh. Quốc lộ 6 nối liền Thủ đô với các tỉnh đồng bằng qua miền Trung du lên Tây Bắc, sang Lào, vào các tỉnh khu 4, đến chiến trường miền Nam. Trục đường 6 nối liền quốc lộ 21A, 12A, 21B, quốc lộ 15, tất cả hình thành hệ thống GTVT liên hoàn. Trên các tuyến có 5 bến phà là: Bờ, Rút, Thia, Vụ Bản, Chi Nê. Trên các tuyến giao thông có các cầu, cống lớn, nhiều nhịp, khẩu độ hàng chục mét, có nhiều đoạn qua đèo hiểm trở bên núi, bên sông như dốc Chó Treo, đèo Hút Gió…Đó là những trọng điểm xung yếu được xác định là “yết hầu” của tuyến giao thông trên địa bàn, cũng là trọng điểm đánh phá liên tục của giặc Mỹ trong chiến tranh.

Ngành GTVT tham mưu cho tỉnh huy động nguồn vốn ngoài ngân sách xây dựng tuyến đường Hòa Lạc- TP Hòa Bình.

 

Cho đến nay, trong ký ức của lớp lớp cán bộ, người lao động ngành GTVT vẫn còn in đậm những kỷ niệm không thể nào quên về một thời “ lửa đạn”, kiên cường, bền bỉ vượt qua biết bao hy sinh, gian khổ, bom dập, bom rơi hoàn thành nhiệm vụ giữ vững mạch máu giao thông của Tổ quốc, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trên mỗi đoạn đường, cung đường, bến phà, công trình giao thông đều như còn những ký ức thiêng liêng và rất đỗi hào hùng trong tiếng mưa bom, bão đạn quân thù vẫn hừng hực khí thế thi đua lao động bám cầu, giữ đường.

 

Trên các bến phà Chợ Bờ, Suối Rút… ngành GTVT tổ chức hai công trường thi công cầu phao bương dồn dập, gấp rút. Trên địa bàn không rộng có đông đủ lực lượng thi công như: Công trường làm cầu phao, công trường mở bến tránh, bến phụ với hàng trăm dân quân, dân công lên phục vụ công trường. Cầu phao bương Chợ Bờ, Suối Rút hoàn thành phục vụ kịp thời nhiệm vụ đột xuất của Trung ương. Các đoàn xe vận tải đủ các loại liên tục ngày đêm chi viện cho chiến trường. Công tác quản lý cầu phao giao lại cho hai bến phà quản lý.

 

Bến phà Vụ Bản được khẩn trương xây dựng bắc cầu phao bương mặt gỗ để đảm bảo giao thông trong mọi tình huống, trước mắt bảo đảm lưu lượng 300 xe ngày, đêm. Bến phà Thia trên đường 24 được tăng cường phương tiện phà ca nô, công nhân, cán bộ bổ sung đủ 3 ca hoạt động ngày đêm. Đường 12B một số cầu dài hàng trăm mét đều phải làm cầu nghi trang (cầu giả) rất công phu nhằm đánh lừa giặc lái.

 

Những nơi sung yếu như đèo, dốc quanh co, đường đi qua vùng chiêm trũng quanh năm bùn lầy đều có đá phòng không dự trữ theo sơ đồ để khi xảy ra sự cố do địch đánh phá là có vật liệu tung ra hàn gắn ngay. Trong những năm tháng hào hùng, sôi động ấy, việc mở đường Đà Bắc- tuyến đường có chiều dài 84 km bắt đầu từ phố Đúng qua xã Hoà Bình, Tu Lý đi Tân Minh, Tân Pheo, Giáp Đắt, Mường Chiềng, Mường Tuổng ra cửa Nánh giáp Sơn La, Nghĩa Lộ có tầm quan trọng về các mặt kinh tế, quốc phòng và trực tiếp đối với đời sống văn hoá, xã hội của nhân dân các dân tộc huyện Đà Bắc.

 

Trên đường 21A, các cầu Beo, cầu Chéo địch đánh phá liên tiếp có gây thiệt hại nhưng ta đã chuẩn bị đường ngầm từ trước cho xe qua lại không bị ách tắc. Cầu Chiềng, cầu Lạng dài hàng trăm mét vẫn hiên ngang đứng vững phục vụ cho các đoàn xe, pháo ngược xuôi. ..Địch phá một ta làm gấp hai, ba với nhiều mưu trí thông minh, sáng tạo. Nào là cầu phà dã chiến, cầu dây cáp bến Khoang, puli giây cáp bến phà Suối Rút, Vụ Bản, Chi Nê, cầu treo Lạc Sơn, cầu phao bương, phao phi mặt sắt, mặt gỗ, mặt tre, cống xếp khan đá ong, đá hộc, trụ cầu bằng cũi lợn chồng nề… Vừa sản xuất, vừa chiến đấu, tay cuốc, tay súng, trận địa là mặt đường, cuốc xẻng là vũ khí, công nhân là chiến sĩ. Các đơn vị hạt, bến, đội xe, bến tầu, bến cảng… được cấp trên trang bị vũ khí tham gia trực chiến trên các mỏm đồi cao và những nơi trọng điểm. Nhiều máy bay tan xác trên bầu trời Hoà Bình.

 

Trong 4 năm chống chiến tranh phá hoại, đế quốc Mỹ đã đánh vào những mục tiêu giao thông của Hoà Bình 108 lần. Có những địa điểm chúng đánh phá liên tục cả ngày đêm như: bến phà suối Rút, chợ Bờ, cầu Vụ Bản, cầu Vạn Mai, đường 21 … Với ý chí và quyết tâm, tinh thần dũng cảm của cán bộ, nhân dân, giao thông không những không bị gián đoạn mà còn được phát triển hoàn chỉnh hơn, tốt hơn, cả đường bộ và đường sông. Phương tiện vận tải cũng được trang bị nhiều hơn, tốt hơn: đường trục chính tăng 33%, phương tiện đường bộ tăng 48%, đường thuỷ tăng 35%, khối lượng vận chuyển tăng 39%. Đồng thời mạng lưới giao thông nông thôn cũng được phát triển rộng rãi, đến năm 1968 đã xây dựng được 4.818 km, tăng 240 % so với trước  năm 1965. Thời kỳ đó, công tác giao thông Hoà Bình được xếp thứ 2 trong các tỉnh miền núi, được Bộ GTVT tặng cờ luân lưu của Hồ Chủ tịch và thưởng 40.000đ về thành tích thi đua giao thông nông thôn, được Quốc hội, Hồ Chủ tịch tặng thưởng 7 Huân chương Lao động các loại cho tập thể đạt nhiều thành tích.

 

Hiện nay, những tuyến đường, công trình giao thông ghi dấn ấn của năm tháng hào hùng trong kháng chiến đang được đầu tư nâng cấp đáp ứng yêu cầu phát triển. Chất lượng mặt đường được nâng lên đáng kể. Tỷ lệ mặt đường được nhựa hóa, bê tông hóa đạt 100% đối với quốc lộ, đạt 98,3% đối với mạng đường khu vực xã đặc biệt khó khăn đạt 97,5% đối với đường tỉnh, đạt 72,2% đối với đường huyện, đạt 51% đối với đường xã, liên xã, đạt 100% đối với đường đô thị. Tỉnh đang huy động các nguồn lực để thực hiện quy hoạch phát triển GTVT xây dựng mạng lưới giao thông hoàn chỉnh, có khả năng kết nối thuận lợi với các tỉnh, thành phố, phục vụ mục tiêu phát triển KT-XH.

 

                                                                                 L.C

 

 

Các tin khác


Bài 3: Đặc quyền của lang - đạo và quyền tối thượng đề ra luật lệ, thâu tóm tư liệu sản xuất


(HBĐT) -Trên thực tế, lang - đạo nhất là lang kun chúa đất có những đặc quyền như sau:

Dấu ấn Bác Hồ về thăm Hòa Bình qua những tài liệu, hiện vật lịch sử

(HBĐT) - Chúng tôi có mặt tại buổi khai trương phòng trưng bày chuyên đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với tỉnh Hòa Bình” của Bảo tàng tỉnh vào những ngày cả nước có nhiều hoạt động chào mừng kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và tròn 70 năm ngày Bác lần đầu tiên về thăm tỉnh Hòa Bình (1947- 2017). Đây chính là hoạt động có ý nghĩa để tri ân và tưởng nhớ công ơn to lớn cùng những điều dạy bảo quý báu của Người đối với tỉnh ta.

 Bài 2: Nhận diện lang - đạo

(HBĐT) - Nhìn chung, các sử gia, học giả đều có chung nhận định rằng chế độ lang - đạo của người Mường phát triển cực thịnh vào thời Lê và bị đàn áp suy yếu sau cuộc khởi nghĩa Lê Duy Lương. Vua Minh Mạng (trị vì 1820 - 1841) đã có những cải cách quan trọng như: Chia lại các châu, mường ở miền núi, tước bỏ quyền thế tập cha truyền con nối, tước bỏ các đặc quyền của các tù trưởng ở miền núi, trong đó có lang - đạo ở vùng Mường. Tuy vậy, chế độ lang - đạo vẫn dai dẳng tồn tại và chỉ bị đánh đổ khi cách mạng tháng 8 - 1945 thành công, chế độ mới được thiết lập.

Tìm hiểu về nhà lang trong xã hội cổ truyền Mường

(HBĐT) - Theo quan điểm chung của giới nghiên cứu cho thấy, chế độ lang - đạo ra đời trong xã hội Mường từ giai đoạn đồ đồng chuyển sang giai đoạn đồ sắt, tương ứng giai đoạn văn hóa Đông Sơn. Nhờ có công cụ bằng kim khí nên năng suất lao động tăng cao, của cải trong xã hội dồi dào hơn trước. Hình thức sở hữu tư nhân chiếm ưu thế tuyệt đối, xã hội phân chia giai cấp diễn ra mạnh mẽ. Giai đoạn đầu khi mới hình thành, chế độ lang - đạo còn gần gũi với nhân dân, đóng vai trò như là tù trưởng, thủ lĩnh, phù hợp với trình độ sản xuất, quản lý xã hội khi đó. Trải qua hàng trăm năm, chế độ lang - đạo tập trung cho mình quyền tuyệt đối về sở hữu tư liệu sản xuất, thậm chí cả người dân của mình, dẫn đến độc quyền trong phân phối sản phẩm, độc quyền trong việc đề ra các luật lệ. Dân Mường phải lệ thuộc và trở thành nông nô, lao động cho các nhà lang. Chế độ này dần thoái hóa, trở nên cực kỳ bảo thủ, phản động cản trở bước tiến của xã hội và dần trở nên mâu thuẫn, đối lập sinh tử với dân Mường và bị đánh đổ trong cách mạng tháng 8/1945. Loạt bài viết này xin lược giới thiệu về nhà lang và chế độ nhà lang nhằm cung cấp cho bạn đọc cái nhìn tuy sơ lược nhưng toàn về chế độ này trong xã hội Mường trước tháng 8/1945.

Chuyện kể về anh hùng Bùi Văn Hợp

(HBĐT) - Con đường bê tông rợp bóng tre đưa chúng tôi đến ngôi nhà nhỏ tại xóm Chiềng 1, xã Vĩnh Đồng, huyện Kim Bôi - nơi anh hùng Bùi Văn Hợp sinh ra và lớn lên. Kín những khoảng tường trong ngôi nhà nhỏ là rất nhiều giấy khen, huân, huy chương. 45 năm sau ngày anh ngã xuống, câu chuyện về anh vẫn có sức sống mãnh liệt, là niềm tự hào của mảnh đất Mường Động anh hùng.

Xã Thu Phong âm vang chiến công bắn rơi máy bay Mỹ

(HBĐT)- Mảnh đất anh hùng Thu Phong (Cao Phong) đang từng ngày đổi thay. Thu Phong phủ một màu xanh bạt ngàn của những đồi cam. Trái cam vàng đã đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc nhưng trong tiềm thức của người dân nơi đây luôn âm vang chiến công oanh liệt dùng súng trường bắn rơi máy bay Mỹ ngày 20/7/1966 của 5 dân quân xã Thu Phong.