Hiện nay, CNVC-LĐ ở các đơn vị có tổ chức công đoàn thuộc LĐLĐ tỉnh quản lý có trên 65.300 người. Số đoàn viên 61.337 người, trong đó, đoàn viên nữ gần 40.700 người. Để CSSK cho nữ CNVCLĐ, đặc biệt là các chị em làm việc trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tập trung đông nhất ở các ngành: may mặc, chế biến gỗ, chế biến thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng, bao bì... những ngành dễ ảnh hưởng đến SKSS của lao động nữ, LĐLĐ tỉnh đã phối hợp với các ngành chức năng và các chuyên gia tổ chức các buổi tọa đàm, truyền thông nhằm trao đổi, thảo luận, phổ biến nhiều kinh nghiệm tốt, cách làm hay trong thực hiện các chế độ, chính sách nâng cao hiệu quả CSSKSS cho nữ công nhân lao động (CNLĐ). Bên cạnh đó, theo thống kê sơ bộ, đa số chị em làm việc trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nằm trong độ tuổi sinh sản, nhiều người chưa lập gia đình nhưng thời gian làm việc nhiều, ít có thời gian tiếp cận với các gói dịch vụ CSSKSS, do đó, LĐLĐ tỉnh đã chắt lọc những kiến thức cơ bản nhất để tuyên truyền rộng rãi trong công nhân, lao động hiện đang làm việc ở các phân xưởng, xí nghiệp sản xuất; giúp người lao động hiểu rõ hơn về SKSS, sự cần thiết phải tiếp cận SKSS, những lứa tuổi cần được CSSKSS và những nội dung CSSKSS. Trong đó, tập trung ưu tiên vào các nội dung CSSKSS, bao gồm, làm mẹ an toàn, thực hiện tốt KHHGĐ, giảm nạo hút thai, phòng, chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục, phòng, chống ung thư vú và cơ quan sinh dục, phòng, chống vô sinh, giáo dục về tình dục, sức khỏe người cao tuổi và bình đẳng giới. Hoạt động này nhằm giúp nữ CNLĐ có điều kiện tìm hiểu, nâng cao kiến thức về SKSS; xác định phương hướng để điều chỉnh hành vi, thói quen sinh hoạt bảo vệ SKSS cho bản thân và gia đình.
Ngoài việc phổ biến kiến thức về CSSKSS, LĐLĐ tỉnh hướng dẫn Ban Chấp hành Công đoàn và Ban Nữ công xây dựng kế hoạch phối hợp với Ban giám đốc công ty thực hiện các chế độ, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả CSSKSS cho người lao động. Bà Bùi Thị Yến, Trưởng Ban Nữ công Công đoàn các KCN tỉnh Hòa Bình cho biết: Công đoàn các KCN tỉnh có trên 14.000 CNLĐ, trong đó đoàn viên nữ chiếm khoảng 82%. Đa số đoàn viên nữ trong độ tuổi sinh sản, nhiều người chưa lập gia đình nhưng thời gian làm việc nhiều, ít có thời gian chăm sóc bản thân, còn thiếu những kiến thức, kỹ năng sống và kiến thức an toàn về tình dục. Điều này nhiều khi gây nên những hậu quả hết sức nặng nề mà họ phải gánh chịu. Do đó, để nâng cao kiến thức CSSKSS cho CNLĐ nói chung, đặc biệt là lao động nữ nói riêng, Công đoàn KCN tỉnh đã chỉ đạo các công đoàn cơ sở tham mưu cho chủ sử dụng lao, đồng thời phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức nhiều buổi truyền thông về CSSKSS để nữ CNLĐ có cơ hội hiểu hơn về chính sách DS-KHHGĐ, các biện pháp phòng tránh thai, kiến thức về phòng bệnh lây qua đường tình dục... Ngoài ra, một số công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn khu đã xây dựng được phòng y tế, trong đó có các góc tư vấn sức khỏe, góc thông tin, gồm những đầu sách, tài liệu, tranh ảnh về giới, quyền, SKSS, tình dục, tâm lý, tình yêu, luật, chính sách để chị em tìm hiểu và tham khảo.
Cùng với việc cung cấp thông tin, kiến thức, thông qua truyền thông, hoạt động CSSKSS/KHHGĐ cho CNLĐ được các đơn vị chú trọng thông qua việc xây dựng phòng y tế, phòng vắt sữa và tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho CNLĐ. Đây là việc làm thiết thực chăm lo đời sống CNLĐ.
Có thể nói, CSSKS/KHHGĐ là một việc làm thiết thực đáp ứng quyền lợi của công nhân và người lao động tại địa phương. Hiện nay với sự phối hợp của các đơn vị liên quan, hoạt động này đã được thực hiện song song hai nội dung, đó là truyền thông đi đôi với cung cấp dịch vụ. Trong thời gian tới, việc CSSKS/KHHGĐ cho CNLĐ sẽ được LĐLĐ tỉnh phối hợp với các ngành liên quan tiếp tục mở rộng địa bàn triển khai cũng như nâng cao chất lượng các hoạt động nói trên, góp phần tạo sự công bằng trong việc tiếp cận các dịch vụ CSSKS/KHHGĐ cho tất cả các đối tượng.
Minh Dũng
(HBĐT) - Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016- 2020, huyện Cao Phong đề ra mục tiêu thực hiện tốt các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội nhằm xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, nhất là đối với các xã, xóm đặc biệt khó khăn, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng. Đẩy nhanh tiến độ giảm nghèo, gắn giảm nghèo bền vững với chương trình xây dựng NTM. Tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo được tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản…