(HBĐT) - Con đường bê tông rợp bóng tre đưa chúng tôi đến ngôi nhà nhỏ tại xóm Chiềng 1, xã Vĩnh Đồng, huyện Kim Bôi - nơi anh hùng Bùi Văn Hợp sinh ra và lớn lên. Kín những khoảng tường trong ngôi nhà nhỏ là rất nhiều giấy khen, huân, huy chương. 45 năm sau ngày anh ngã xuống, câu chuyện về anh vẫn có sức sống mãnh liệt, là niềm tự hào của mảnh đất Mường Động anh hùng.

CCB xã Vĩnh Đồng (Kim Bôi) và người thân cùng ôn lại những chiến công vẻ vang của anh hùng Bùi Văn Hợp.

 

Anh hùng Bùi Văn Hợp sinh ra và lớn lên trong gia đình có truyền thống yêu nước cách mạng. ông Bùi Văn ứng, Chủ tịch Hội CCB xã Vĩnh Đồng cho biết: Anh Hợp là con trai của ông Bùi Văn Lương, nguyên là ủy viên ủy ban Hành chính xã Vĩnh Đồng. ông Lương là cán bộ cách mạng tận tâm, yêu nước. Ngày 18/4/1961, ông Lương đã vinh dự được Thủ tướng Chính phủ tặng Huy chương Kháng chiến hạng nhất vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc. Phát huy truyền thống cách mạng đó, lớn lên tại quê nhà, anh Hợp sớm tham gia dân quân, tích cực  với công việc tuần tra, canh máy bay bảo vệ xóm làng. Lúc chưa đi bộ đội, anh Hợp đã là xạ thủ 12 ly 7 cùng lực lượng dân quân của tỉnh trực chiến bảo vệ cầu Lạng.

 

Trò chuyện với chúng tôi, CCB Bùi Hồng Nhi, anh rể của anh hùng Bùi Văn Hợp cho biết: Tôi nhập ngũ cùng năm với cậu Hợp, cùng chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ. Cậu Hợp sinh năm 1950, nhập ngũ năm 1968 khi chưa tròn 18 tuổi. Tham gia chiến đấu, liên tục từ năm 1969 - 1972, cậu Hợp làm nhiệm vụ trinh sát trong vùng khó khăn ác liệt nhưng trong mọi hoàn cảnh, Hợp luôn dũng cảm, mưu trí, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

 

Ngay sau khi tham gia chiến đấu, chỉ trong thời gian ngắn, người con của mảnh đất Mường Động đã sớm thể hiện khí phách anh hùng, gan dạ, mưu trí và    đặc biệt là khả năng bắn giỏi. Ngày 15/5/1968, chiến sỹ Bùi Văn Hợp được nhận tấm bằng khen đầu tiên vì “đã lập được nhiều thành tích trong chiến đấu xuân hè năm 1968”.

 

Tiếp đó, ngày 8/4/1970, ở đồi 195 C Cam Pốt (Campuchia), đồng chí Bùi Văn Hợp đang tham gia chiến đấu thuộc Trung đoàn 165, Sư đoàn 7, qua điều tra nắm chắc lực lượng địch đã dẫn đơn vị diệt 22 xe quân sự và sinh lực địch. Chiến công nối tiếp chiến công, tháng 5/1970, một mình đồng chí Bùi Văn Hợp đã tiêu diệt 15 tên địch, phá 2 xe quân sự góp phần vào chiến công vang dội của đơn vị là diệt 120 tên địch, phá 13 xe M113. Tiếp đó, ngày 9/1/1971, anh Hợp đã trinh sát nắm chắc mục tiêu, dẫn đầu đơn vị diệt 200 tên địch, phá hỏng 10 xe quân sự. Tháng 12/1971, qua trinh sát, anh báo cáo cấp trên đánh tiêu diệt 1 tiểu đoàn địch và đoàn xe cơ giới. Nhờ vậy mà anh Hợp liên tiếp được nhận bằng khen vì thành tích xuất sắc trong chiến dịch Thu - đông năm 1970, chiến dịch Xuân - hè năm 1971.

 

Trận chiến bi hùng nhất của cuộc đời anh đó chính là từ ngày 19 - 21/6/1972. Lúc này anh Hợp là Trung đội trưởng trinh sát Đại đội 4, Trung đoàn 165, Sư đoàn 7. Anh đã kiên cường một mình chỉ huy đơn vị đánh trả quyết liệt một tiểu đoàn địch. Cá nhân anh đã sử dụng 4 loại vũ khí (tiểu liên, súng trường, B40, lựu đạn) cùng đồng đội đánh lui nhiều đợt tấn công của địch và anh dũng hy sinh ngày 21/6/1972 khi vừa tròn 22 tuổi. Với tinh thần chiến đấu và những chiến công vang dội đó, anh Hợp đã được tặng thưởng 4 Huân chương Chiến công hạng ba, 1 Huân chương Chiến sỹ giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến sỹ giải phóng hạng ba, 1 Huân chương Kháng chiến hạng ba, 3 Huy hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, 1 Huy hiệu Quyết thắng, 2 Huy hiệu Chiến sỹ xung kích, 2 Huy hiệu Chiến sĩ thi đua, 7 bằng khen các cấp… Đặc biệt, ngày 5/2/ 1975, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã tặng danh hiệu “Anh hùng LLVT nhân dân” cho liệt sỹ Bùi Văn Hợp vì đã có những thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu góp phần vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đi đến thắng lợi hoàn toàn.

 

                                                                          

                                                       Dương Liễu

 

 

 

Các tin khác


Bài 3: Đặc quyền của lang - đạo và quyền tối thượng đề ra luật lệ, thâu tóm tư liệu sản xuất


(HBĐT) -Trên thực tế, lang - đạo nhất là lang kun chúa đất có những đặc quyền như sau:

Dấu ấn Bác Hồ về thăm Hòa Bình qua những tài liệu, hiện vật lịch sử

(HBĐT) - Chúng tôi có mặt tại buổi khai trương phòng trưng bày chuyên đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với tỉnh Hòa Bình” của Bảo tàng tỉnh vào những ngày cả nước có nhiều hoạt động chào mừng kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và tròn 70 năm ngày Bác lần đầu tiên về thăm tỉnh Hòa Bình (1947- 2017). Đây chính là hoạt động có ý nghĩa để tri ân và tưởng nhớ công ơn to lớn cùng những điều dạy bảo quý báu của Người đối với tỉnh ta.

 Bài 2: Nhận diện lang - đạo

(HBĐT) - Nhìn chung, các sử gia, học giả đều có chung nhận định rằng chế độ lang - đạo của người Mường phát triển cực thịnh vào thời Lê và bị đàn áp suy yếu sau cuộc khởi nghĩa Lê Duy Lương. Vua Minh Mạng (trị vì 1820 - 1841) đã có những cải cách quan trọng như: Chia lại các châu, mường ở miền núi, tước bỏ quyền thế tập cha truyền con nối, tước bỏ các đặc quyền của các tù trưởng ở miền núi, trong đó có lang - đạo ở vùng Mường. Tuy vậy, chế độ lang - đạo vẫn dai dẳng tồn tại và chỉ bị đánh đổ khi cách mạng tháng 8 - 1945 thành công, chế độ mới được thiết lập.

Tìm hiểu về nhà lang trong xã hội cổ truyền Mường

(HBĐT) - Theo quan điểm chung của giới nghiên cứu cho thấy, chế độ lang - đạo ra đời trong xã hội Mường từ giai đoạn đồ đồng chuyển sang giai đoạn đồ sắt, tương ứng giai đoạn văn hóa Đông Sơn. Nhờ có công cụ bằng kim khí nên năng suất lao động tăng cao, của cải trong xã hội dồi dào hơn trước. Hình thức sở hữu tư nhân chiếm ưu thế tuyệt đối, xã hội phân chia giai cấp diễn ra mạnh mẽ. Giai đoạn đầu khi mới hình thành, chế độ lang - đạo còn gần gũi với nhân dân, đóng vai trò như là tù trưởng, thủ lĩnh, phù hợp với trình độ sản xuất, quản lý xã hội khi đó. Trải qua hàng trăm năm, chế độ lang - đạo tập trung cho mình quyền tuyệt đối về sở hữu tư liệu sản xuất, thậm chí cả người dân của mình, dẫn đến độc quyền trong phân phối sản phẩm, độc quyền trong việc đề ra các luật lệ. Dân Mường phải lệ thuộc và trở thành nông nô, lao động cho các nhà lang. Chế độ này dần thoái hóa, trở nên cực kỳ bảo thủ, phản động cản trở bước tiến của xã hội và dần trở nên mâu thuẫn, đối lập sinh tử với dân Mường và bị đánh đổ trong cách mạng tháng 8/1945. Loạt bài viết này xin lược giới thiệu về nhà lang và chế độ nhà lang nhằm cung cấp cho bạn đọc cái nhìn tuy sơ lược nhưng toàn về chế độ này trong xã hội Mường trước tháng 8/1945.

Truyền thống “ đi trước mở đường” tiếp bước tương lai

(HBĐT) - Địa bàn tỉnh là đầu mối giao thông tỏa đia mọi miền đất nước có tầm đặc biệt quan trọng trong thời chiến tranh. Quốc lộ 6 nối liền Thủ đô với các tỉnh đồng bằng qua miền Trung du lên Tây Bắc, sang Lào, vào các tỉnh khu 4, đến chiến trường miền Nam. Trục đường 6 nối liền quốc lộ 21A, 12A, 21B, quốc lộ 15, tất cả hình thành hệ thống GTVT liên hoàn. Trên các tuyến có 5 bến phà là: Bờ, Rút, Thia, Vụ Bản, Chi Nê. Trên các tuyến giao thông có các cầu, cống lớn, nhiều nhịp, khẩu độ hàng chục mét, có nhiều đoạn qua đèo hiểm trở bên núi, bên sông như dốc Chó Treo, đèo Hút Gió…Đó là những trọng điểm xung yếu được xác định là “yết hầu” của tuyến giao thông trên địa bàn, cũng là trọng điểm đánh phá liên tục của giặc Mỹ trong chiến tranh.

Xã Thu Phong âm vang chiến công bắn rơi máy bay Mỹ

(HBĐT)- Mảnh đất anh hùng Thu Phong (Cao Phong) đang từng ngày đổi thay. Thu Phong phủ một màu xanh bạt ngàn của những đồi cam. Trái cam vàng đã đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc nhưng trong tiềm thức của người dân nơi đây luôn âm vang chiến công oanh liệt dùng súng trường bắn rơi máy bay Mỹ ngày 20/7/1966 của 5 dân quân xã Thu Phong.