Trong năm 2018, nhiều chính sách lớn trong lĩnh vực viễn thông đã được triển khai, tạo ra không ít biến động cho thị trường, nhưng cũng thúc đẩy sự cạnh tranh mạnh mẽ hơn giữa các nhà mạng. Trong bối cảnh đó, Tổng công ty Hạ tầng mạng (VNPT - NET) đã nỗ lực cao độ, tập trung phát triển nâng cao năng lực, quy mô hạ tầng kỹ thuật, tạo chuyển biến rõ rệt về chất lượng mạng viễn thông và các hệ thống công nghệ thông tin, góp phần cùng Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị được giao.

Trụ cột về chất lượng hạ tầng

Cán bộ kỹ thuật của VNPT - Net lắp đặt thiết bị hạ tầng mạng lưới.

Nâng cao năng lực mạng lưới

Thực hiện kế hoạch của Bộ Thông tin và Truyền thông, từ ngày 15-9-2018, tất cả các doanh nghiệp viễn thông đã đồng loạt triển khai việc chuyển đổi mã mạng di động của hàng chục triệu thuê bao di động 11 số về 10 số. Tiếp đó, bắt đầu từ ngày 16-11-2018, các nhà mạng tiếp tục triển khai dịch vụ chuyển mạng giữ nguyên số (MNP) cho tất cả các thuê bao trả sau trên cả nước. Những chính sách này đã gây tác động lớn đến thị trường viễn thông, thúc đẩy sự cạnh tranh. Do đó, yêu cầu bảo đảm chất lượng của mạng lưới và dịch vụ đã trở thành yếu tố cốt lõi cho sự thành công của mỗi doanh nghiệp viễn thông.

Tổng Giám đốc VNPT - NET Nguyễn Nam Long cho biết, với vai trò là đơn vị phụ trách phát triển hạ tầng mạng lưới của VNPT, trong năm 2018, VNPT - NET đã tập trung đầu tư cho các dự án nâng cao năng lực mạng lõi di động, mở rộng mạng vô tuyến, băng rộng IP, các tuyến truyền dẫn liên tỉnh cùng dung lượng kết nối in-tơ-nét quốc tế,... Nhờ phấn đấu hoàn thành cơ sở hạ tầng kịp thời, năng lực hạ tầng mạng lưới của VNPT - NET đã được nâng cấp, mở rộng đạt mức tăng trưởng đáng kể so với năm 2017. Tổng công ty đã đầu tư, phát triển mới hơn 8.500 trạm vô tuyến cả 2G, 3G và 4G, nâng tổng số trạm phát sóng di động trên toàn quốc lên hơn 80 nghìn trạm. Dung lượng truyền dẫn liên tỉnh cũng được nâng cấp lên 20.450 Gbp/giây, tăng 90%; dung lượng truyền dẫn quốc tế lên 5.769 Gbp/giây, tăng 50%; kết nối in-tơ-nét quốc tế lên 2.950 Gbp/giây, tăng hơn 50% so cùng kỳ. Nhờ vậy, chất lượng mạng lưới của VNPT đã được cải thiện rõ rệt. Chỉ số thời gian mất liên lạc bình quân mỗi trạm vô tuyến giảm 30%; độ khả dụng mạng truyền dẫn liên tỉnh đều vượt mức quy định (99,99%); sự cố nghiêm trọng giảm 35%, sự cố lớn giảm 42% so với năm trước;...

Có thể nói, công tác tối ưu hóa, nâng cao chất lượng mạng lưới đã được VNPT - NET thực hiện thường xuyên, liên tục, hoàn thành nhiều hạng mục chương trình công việc lớn với chất lượng cao, góp phần duy trì chỉ tiêu chất lượng toàn mạng luôn đạt và vượt yêu cầu theo quy định của Tập đoàn VNPT. Ðội ngũ kỹ thuật của Tổng công ty cũng đã hoàn toàn làm chủ hệ thống, phối hợp chặt chẽ các đơn vị trong Tập đoàn hoàn thành hai kế hoạch lớn của ngành viễn thông là công tác chuyển đổi mã mạng di động từ 11 số về 10 số của 17 triệu thuê bao việc triển khai dịch vụ MNP chính thức bắt đầu từ 16-11-2018. Ðồng thời, các đơn vị của Tổng công ty còn nỗ lực triển khai nhiều giải pháp, tập trung nguồn lực bảo đảm chất lượng dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin (VT-CNTT) đáp ứng yêu cầu các sự kiện kinh tế, chính trị, ngoại giao quan trọng của đất nước, nhất là Hội nghị Diễn đàn Kinh tế thế giới WEF ASEAN 2018 tổ chức tại Hà Nội.

Tiếp tục tạo đột phá

Ðể phục vụ mục tiêu phát triển chiến lược VNPT 4.0, VNPT - NET đặt quyết tâm tiếp tục tạo được sự đột phá về năng lực cạnh tranh hạ tầng VT-CNTT trong nước và quốc tế, bảo đảm năng lực, chất lượng mạng lưới, đáp ứng tốt yêu cầu kinh doanh, phục vụ trong năm 2019 và các năm tiếp theo. Theo đó, Tổng công ty tập trung triển khai các dự án phát triển, mở rộng mạng vô tuyến, chú trọng chất lượng vùng phủ sóng và năng lực mạng 4G; chuẩn bị hạ tầng mạng cho sự chuyển dịch nhu cầu từ thoại sang dữ liệu (data) ngày càng cao của khách hàng. Bên cạnh đó, Tổng công ty cũng chủ động cập nhật tình hình chuẩn hóa, chủ động nghiên cứu, thử nghiệm mạng 5G; quy hoạch tần số, lựa chọn công nghệ sẵn sàng cho phát triển dịch vụ 5G theo định hướng của Tập đoàn trong thời gian tới. Ðồng thời, VNPT - NET sẽ tiếp tục thực hiện các chương trình tối ưu hóa các hệ thống trên mạng viễn thông di động, băng rộng cố định (gồm các hệ thống mạng lõi, vô tuyến, truyền dẫn, truy nhập và nâng cấp cơ sở hạ tầng nhà trạm...); theo dõi sát diễn biến dịch vụ chuyển mạng giữ số MNP để có đề xuất Tập đoàn các kịch bản xử lý tình huống; chuẩn bị sẵn sàng phương án, năng lực dự phòng cho mạng lưới nhằm bảo đảm chất lượng dịch vụ, đáp ứng tốt các sự kiện chính trị, kinh tế, xã hội quan trọng của đất nước; xây dựng các giải pháp ứng cứu kịp thời tình huống khẩn cấp, phục vụ phòng, chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai.

Theo Tổng Giám đốc VNPT - NET Nguyễn Nam Long, vấn đề an ninh mạng luôn được Tổng công ty hết sức coi trọng với mục tiêu tiếp tục vận hành, khai thác hiệu quả các hệ thống bảo đảm an ninh, an toàn mạng lưới, chống tiến công mạng. Ðơn vị cũng đang triển khai nhanh các hệ thống hỗ trợ kiểm soát nội dung phục vụ công tác bảo đảm an toàn thông tin, nghiên cứu áp dụng các chính sách an toàn thông tin theo tiêu chuẩn ISO 27001, đẩy mạnh triển khai các chương trình xử lý tin nhắn, thư rác và rà soát SIM rác trên mạng... Có thể khẳng định, với những quyết tâm và những mục tiêu, kế hoạch cụ thể đề ra, VNPT - NET sẽ góp phần cùng Tập đoàn VNPT hoàn thành vượt mức kế hoạch phát triển giai đoạn 2016 - 2020 cũng như thực hiện thành công chiến lược VNPT 4.0.

 

                                                                                                   Theo báo Nhân Dân

Các tin khác


Hội nghị triển khai kế hoạch thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM năm 2019

(HBĐT) - Chiều ngày 20/3, UBND huyện Yên Thủy tổ chức hội nghị triển khai kế hoạch thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, Kế hoạch cải tạo vườn tạp, kế hoạch dồn điền đổi thửa, kế hoạch triển khai công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm năm 2019 trên địa bàn huyện.

Hội Cựu chiến binh huyện Lạc Thủy hỗ trợ hội viên phát triển kinh tế

(HBĐT) - Với ý chí tự lực, tự cường, mạnh dạn trong đầu tư phát triển kinh tế, năm 1993, sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương, ông Đào Phúc Đình, thôn Đồng Phú, xã Đồng Tâm (Lạc Thủy) tham khảo, tìm hiểu nhu cầu thị trường, đầu tư xây dựng xưởng, lò đốt công nghệ tuy nen - hút âm, sản xuất gạch theo công nghệ mới. Đến nay, doanh thu của gia đình ông đạt từ 7-8 tỷ đồng/năm, tạo việc làm thường xuyên cho 50 lao động địa phương với mức thu nhập bình quân 6 triệu đồng/người/tháng.

Trăn trở “bài toán” đầu ra cho cây mía tím Hòa Bình

(HBĐT) - Toàn tỉnh hiện có hơn 3.100 ha mía tím đang gặp khó khăn trong tiêu thụ, thị trường phụ thuộc hoàn toàn vào tư thương. Bên cạnh đó, xuất khẩu mía tím vừa manh nha đã gặp trở ngại… Đòi hỏi cần sự thay đổi về chất, cách thức tiêu thụ trong thời gian tới.

Giải ngân vốn đầu tư công đạt 285 tỷ đồng

(HBĐT) - Kế hoạch vốn đầu tư nguồn ngân sách Nhà nước của tỉnh năm 2019 là 2.470,619 tỷ đồng. Tỉnh đã phân bổ và thông báo chi tiết đến từng dự án với số vốn 2.027,5 tỷ đồng. Trong đó, vốn đầu tư trong cân đối ngân sách tỉnh 1.438,6 tỷ đồng; vốn Trung ương hỗ trợ có mục tiêu 285,97 tỷ đồng; vốn nước ngoài 302,96 tỷ đồng.

Đảm bảo tưới tiêu cho cây trồng vụ chiêm xuân

(HBĐT) - Chiến dịch toàn dân làm thủy lợi nội đồng được xác định là một trong những công tác trọng tâm, góp phần sửa chữa ổn định các công trình trước mùa mưa lũ, đảm bảo cho công tác tưới tiêu trong sản xuất vụ xuân và cơ bản khắc phục tình hình hạn hán trên địa bàn. Vì vậy, bên cạnh việc chỉ đạo các địa phương hoàn thành khâu chuẩn bị để kịp thời tổ chức phát động Chiến dịch, huyện Kim Bôi đang tiếp tục kiểm tra tình hình trữ nước tại các hồ, đập, phối hợp làm tốt công tác dự đoán, dự báo để đảm bảo cho vụ mùa diễn ra thuận lợi, đạt kết quả cao.

Liên kết sản xuất và tiêu thụ giúp nông dân yên tâm sản xuất

(HBĐT) - Cách đây 6 năm, Công ty Tân Lộc Phát bắt đầu đưa liên kết sản xuất - tiêu thụ bí đỏ, mướp đắng lấy hạt về với nông dân các xã trên địa bàn huyện Lạc Sơn, tập trung ở vùng Quyết Thắng, Cộng Hòa như Mỹ Thành, Văn Nghĩa, Văn Sơn… Cũng từ đây, bà con dần quen và thích ứng với chương trình liên kết mà trong đó, phía doanh nghiệp là đơn vị cung cấp giống, vật tư phân bón, kỹ thuật và bao tiêu toàn bộ sản phẩm, còn nông dân bỏ công sức lao động trồng, chăm sóc, thu hoạch và thực hiện cam kết bán sản phẩm cho doanh nghiệp thu mua.