Lá cờ Mỹ bay trên khu vực Ground Zero, nơi tòa tháp đôi của Trung tâm thương mại thế giới sụp đổ, ở New York - Ảnh: Reuters

Lá cờ Mỹ bay trên khu vực Ground Zero, nơi tòa tháp đôi của Trung tâm thương mại thế giới sụp đổ, ở New York - Ảnh: Reuters

Từ sau vụ tấn công khủng bố 11-9, phương Tây đã mất cả chục năm để tập trung đối phó với mối đe dọa khủng bố cùng hai cuộc chiến tranh ở Afghanistan và Iraq. Và phương Tây cũng đã nhắm mắt trước một sự thay đổi toàn cầu: sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Trên báo Guardian (Anh), nhà phân tích chính trị Timothy Garton Ash cho rằng Trung Quốc là quốc gia được hưởng lợi lớn nhất trong 10 năm qua từ cuộc chiến chống khủng bố mà nước Mỹ tiến hành sau khi bị những tên khủng bố Hồi giáo “điểm huyệt” ngay trái tim mình.

“Vào ngày 11-9-2031, khi nhìn lại 30 năm qua các sử gia sẽ đánh giá 30 năm cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo như thế nào? Chắc chắn trong mắt họ, giai đoạn kéo dài này sẽ được mô tả là bước chuyển giao trọng tâm quyền lực từ phương Tây sang phương Đông, với một Trung Quốc hùng mạnh hơn nhiều và một nước Mỹ kém hùng mạnh hơn, một Ấn Độ mạnh mẽ hơn và một Liên minh châu Âu (EU) suy yếu hơn” - Garton Ash viết.

11-9 mở đầu “thập kỷ vàng”

Theo nghiên cứu “Các chi phí của chiến tranh” do Đại học Brown thực hiện, trong 10 năm qua chi phí kinh tế về dài hạn do các cuộc chiến tranh ở Afghanistan, Iraq, Pakistan và những cuộc can thiệp chống khủng bố khác của Mỹ khoảng 3.200-4.000 tỉ USD. Dự báo con số này có thể tăng lên đến 4.400 tỉ USD vào năm 2020. Giới chuyên gia có thể sẽ còn tranh cãi về con số này, nhưng quả là một con số khổng lồ. Nó gần bằng 1/4 khoản nợ công của Mỹ mà vốn sẽ tiếp tục còn tăng lên và chiếm đến 100% GDP. Đây lẽ ra là một khoản đầu tư khổng lồ cho nguồn nhân lực, cho đào tạo lao động có trình độ cao, cho hạ tầng cơ sở cùng những cải tiến của nước Mỹ thì lại đã bị mất đi.

Trong khi đó, 10 năm qua lại đánh dấu sự trỗi dậy về kinh tế của Trung Quốc. Theo số liệu của Bộ Thương mại Trung Quốc, năm 2001 GDP của nước này chỉ khoảng 1.160 tỉ USD, nhưng đến năm 2010 đã tăng lên tới 6.040 tỉ USD. Cùng khoảng thời gian này, ngoại thương Trung Quốc đã tăng sáu lần, từ 500 tỉ USD lên 3.000 tỉ USD, dự trữ ngoại hối tăng hơn gấp 10 lần, từ 212 tỉ USD lên 3.200 tỉ USD.

Tốc độ phát triển kinh tế chóng mặt của Trung Quốc đã thu hẹp khoảng cách giữa Bắc Kinh và Washington. Năm 2001, GDP của Trung Quốc chỉ bằng 10% GDP của Mỹ, nhưng đến năm 2010 đã tăng lên ngang bằng 45% GDP của Mỹ. 10 năm trước, Washington đạt thặng dư ngân sách cao, nhưng hiện nay mức thâm hụt tương đương 10% GDP. Trong một thập niên qua, Trung Quốc đã trở thành chủ nợ lớn nhất của Mỹ. Năm 2001, Bắc Kinh chỉ nắm giữ khoảng 160 tỉ USD trái phiếu Chính phủ Mỹ, nhưng đến nay con số này đã tăng lên đến hơn 1.500 tỉ USD trong tổng nợ công 14.000 tỉ USD của Washington.

Nhà phân tích Lionel Barber của báo Financial Times cho rằng cụm từ quan trọng nhất của thập niên qua không phải là “cuộc chiến chống khủng bố”, mà là “made in China (sản xuất tại Trung Quốc)”. Các sử gia quốc tế nhìn nhận thập niên 2001-2011 là “thập kỷ vàng” của Trung Quốc. Người Trung Quốc có thể nói rằng sự phát triển kinh tế mạnh mẽ là thành quả lao động của họ. Nhưng liệu Trung Quốc có thể thu lợi được nhiều đến như vậy, nếu không có sự kiện 11-9? Trên báo India Express, giáo sư chính trị Minxin Pei thuộc Đại học Claremont McKenna (Mỹ) trả lời là: không. Bởi biến cố 11-9 đã làm thay đổi hoàn toàn các chính sách chiến lược của Mỹ.

“Thời kỳ thuận lợi không kéo dài”

Trước 11-9, chính quyền tổng thống Bush xác định Trung Quốc là “mối đe dọa chiến lược” đối với Mỹ. Nếu không có vụ 11-9, chính quyền Washington sẽ tiếp tục con đường kiềm chế “đối thủ” Trung Quốc. Nhưng sau 11-9, các ưu tiên chiến lược của Mỹ lập tức thay đổi hoàn toàn. Chính quyền Washington dồn mọi nguồn lực vào cuộc chiến chống khủng bố và hai cuộc chiến ở Afghanistan và Iraq. Chính sách tài khóa mở rộng của chính quyền Bush để hỗ trợ cuộc chiến Iraq và chi phí chiến tranh đã làm nước Mỹ suy yếu nghiêm trọng.

Tuy nhiên, như giáo sư Minxin Pei nhận định, “thời kỳ thuận lợi” của Trung Quốc cũng chỉ kéo dài 10 năm. Đối với Bắc Kinh, các cơ hội chiến lược mà sự kiện 11-9 tạo ra đã dần kết thúc. Một tổng thống Mỹ mới ở Washington đã điều chỉnh chiến lược sai lầm của người tiền nhiệm và tập trung hơn vào khu vực châu Á. Những diễn biến tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã giúp Mỹ điều chỉnh chiến lược ở khu vực này một cách hiệu quả hơn.

“Có một điều chắc chắn là Trung Quốc sẽ rất nhớ môi trường thuận lợi mà sự kiện 11-9 tạo ra và có những đóng góp to lớn vào sự trỗi dậy kinh tế của nước này” - giáo sư Minxin Pei khẳng định.

 

                                                                 Theo Báo Tuoitre

Các tin khác


Mỹ và Canada điều máy bay chở công dân trên du thuyền Diamond Princess về nước

Ngày 15/2, Mỹ thông báo điều máy bay tới Nhật Bản để đưa về nước tất cả công dân Mỹ có mặt trên du thuyền Diamond Princess, hiện được cách ly ở thành phố Yokohama của Nhật Bản do lo ngại lây nhiễm dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19 (nCo-V). Chuyến bay đầu tiên sẽ tới Nhật Bản tối 16/2.

Pháp ghi nhận ca tử vong đầu tiên vì COVID-19 ngoài châu Á

Ngày 15/2, Pháp đã ghi nhận ca tử vong đầu tiên liên quan tới dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corana - COVID-19 (nCoV).

Trên 8.000 bệnh nhân nhiễm COVID-19 được xuất viện tại Trung Quốc đại lục

Theo thông báo mới nhất sáng 15/2 của Ủy ban Y tế quốc gia Trung Quốc, đến hết ngày 14/2, nước này đã ghi nhận tổng cộng 8.096 bệnh nhân nhiễm bệnh viêm đường hô hấp COVID-19 (nCoV) được điều trị khỏi bệnh và xuất viện. Riêng trong ngày 14/2 đã có 1.373 người được ra viện.

Du khách tàu MS Westerdam xuống cảng Cambodia trở về nước

Sáng 14-2, toàn bộ du khách trên tàu MS Westerdam đã xuống cảng Preah Sihanouk của Cambodia để trở về nước hoặc đi tham quan đất nước Chùa Tháp, sau khi hành khách và thủy thủ đoàn được xác định không bị nhiễm Covid-19.

Nhật Bản xác nhận ca tử vong đầu tiên do Covid-19

Ngày 13-2, Bộ Y tế Nhật Bản đã xác nhận ca tử vong đầu tiên vì bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona - Covid-19 (trước đây gọi là nCoV).

Bộ trưởng Kinh tế Đức: EVFTA mở ra tiềm năng to lớn cho doanh nghiệp châu Âu

Phát biểu sau khi Nghị viện châu Âu (EP) ngày 12/2 thông qua hai hiệp định gồm Hiệp định Thương mại tự do và Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam (EVFTA và EVIPA), Bộ trưởng Kinh tế và Năng lượng liên bang Đức Peter Altmaier cho rằng thỏa thuận đạt được mở ra tiềm năng thị trường rất lớn cho các doanh nghiệp châu Âu.

Xem các tin đã đưa ngày:
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục