(HBĐT) - Để góp phần nâng cao thu nhập cho người dân trong sản xuất nông nghiệp, những năm gần đây, các địa phương trên địa bàn huyện Kim Bôi tập trung chuyển đổi một số diện tích đất trồng lúa, màu kém hiệu quả sang trồng cỏ làm thức ăn chăn nuôi đã mang lại lợi ích kép cho nông dân.

Gia đình bà Bùi Thị Hồng ở xóm Đồi 1, xã Kim Tiến nuôi bò từ nhiều năm nay. Năm 2016, gia đình bà đăng ký thực hiện mô hình và được hỗ trợ giống trồng 500 m2 cỏ VA06. Thời điểm đó, gia đình bà nuôi 4 con bò. Sau hơn 1 năm thực hiện mô hình, thấy có hiệu quả, thức ăn từ cỏ giúp đàn bò phát triển tốt. Mới đây, gia đình bà mua thêm 2 con bò, nâng tổng số đàn bò của gia đình lên 6 con. 


Xã Kim Tiến (Kim Bôi) phát triển diện tích trồng cỏ voi để chăn nuôi bò, đem lại hiệu quả kinh tế.

Kim Tiến là một trong những xã thực hiện đề án trồng cỏ vỗ béo đàn bò của huyện. Nhờ thực hiện mô hình, tổng đàn trâu, bò của xã tăng từ trên 900 con năm 2016 lên trên 1.100 con vào cuối năm 2018. Hiện, toàn xã có 20 hộ thực hiện mô hình trồng cỏ VA06 với diện tích 0,8 ha, trong đó, xóm Đồi 1 trồng nhiều nhất.

Theo thống kê, đến hết tháng 2, trên địa bàn huyện Kim Bôi có tổng đàn trâu 19.920 con, đàn bò 7.167 con. Hiện, thức ăn cho bò chủ yếu từ các sản phẩm phụ của nông nghiệp như rơm, rạ, thân cây ngô, lá mía... Mặt khác, diện tích chăn thả ngày càng bị thu hẹp, diện tích trồng cỏ phục vụ chăn nuôi còn hạn chế. Do đó, nguồn thức ăn thô, xanh chủ động cho đại gia súc vẫn thiếu, nhất là vào mùa đông.
Đến nay, tổng diện tích trồng cỏ làm thức ăn cho gia súc khoảng 70 ha, trong đó có khoảng 95% diện tích cỏ mọc tự nhiên, bãi cỏ chăn thả và 5% diện tích cỏ trồng cao sản như cỏ voi năng suất từ 250 - 300 tấn/ha/năm, cỏ VA06 năng suất từ 400-500 tấn/ha/năm. Các giống cỏ này đã được trồng thử nghiệm tại một số xã cho giá trị dinh dưỡng, năng suất cao, song đòi hỏi điều kiện kỹ thuật canh tác và chi phí để duy trì sản xuất cũng khá cao. Hiện tại, trên địa bàn huyện chưa có cơ sở sản xuất thức ăn quy mô công nghiệp. Mới chỉ có một số hộ tự chế biến thức ăn nhưng mang tính tự phát, quy mô nhỏ. 

Đề án trồng cỏ vỗ béo đàn bò giai đoạn 2016 - 2020, với mục tiêu khuyến khích hỗ trợ đầu tư phát triển trồng cỏ vỗ béo đàn bò có quy mô vừa và lớn theo hướng trang trại, gia trại, chăn nuôi theo vùng và xã trọng điểm. Phát triển chăn nuôi bò theo phương thức bán thâm canh nhằm ổn định và phát triển đàn, tạo ra sản phẩm thịt bò với số lượng, chất lượng cao, đảm bảo vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường. Đề án được triển khai thực hiện ở 12 xã có số lượng đàn bò lớn, diện tích đất trồng ngô, mía nhiều là Cuối Hạ, Mỵ Hoà, Nam Thượng, Kim Truy, Kim Bình, Kim Tiến, Hạ Bì, Thượng Bì, Vĩnh Đồng, Hợp Đồng, Tú Sơn, Đú Sáng. Theo quy hoạch đến năm 2020, huyện Kim Bôi sẽ tăng diện tích cỏ từ 70 ha lên 78 ha. Tổng kinh phí thực hiện đề án trên 40 tỷ đồng, trong đó, các hộ dân tham gia đề án đóng góp trên 38 tỷ đồng, ngân sách huyện gần 2 tỷ đồng, nguồn lồng ghép trên 200 triệu đồng. 

Đồng chí Vũ Thị Ngọc, Trưởng phòng NN&PTNT huyện Kim Bôi cho biết: Mô hình trồng cỏ chăn nuôi bò là hướng phát triển kinh tế mới. Sau hơn 2 năm triển khai đề án, đến hết năm 2018, toàn huyện trồng được hơn 2 ha cỏ VA06 với 70 hộ tham gia, qua đó vỗ béo được 240 con bò. Với 1 tháng vỗ béo, trung bình mỗi con tăng từ 16-18 kg. Sau khi trừ chi phí đầu tư trực tiếp và chi phí khấu hao từ trồng cỏ, mỗi tháng lợi nhuận bình quân thu được đạt trên 800 nghìn đồng/con. Từ thực tế trên cho thấy, mô hình trồng cỏ để chăn nuôi bò bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế khá cao, bởi trồng cỏ vừa tốn ít chi phí, ít công chăm sóc mà giá thành các loài vật nuôi cao.


                                                                                                               Hải Linh

Các tin khác


Sản phẩm thương hiệu Rạng Đông đến thị trường Campuchia

Ngày 19-3, tại thủ đô Phnom Penh, Công ty Cổ phần Bóng đèn phích nước Rạng Đông của Việt Nam đã tổ chức giới thiệu các sản phẩm mới của doanh nghiệp đến khách hàng tại thị trường Campuchia.

Gấp rút thi công cầu Hòa Bình 3

(HBĐT) - Công trình cầu Hòa Bình 3 là dự án trọng điểm của TP Hòa Bình. Dự án được khởi công vào năm 2016 với tổng mức đầu tư gần 435 tỷ đồng. Tính đến thời điểm hiện tại, dự án cầu Hòa Bình 3 đạt khối lượng thực hiện trên 260 tỷ đồng. Nhà thầu đang gấp rút triển khai các hạng mục nhằm đảm bảo hoàn thành công trình đưa vào sử dụng trong năm 2019.

Agribank Hòa Bình ký kết hợp đồng tín dụng đầu tư dự án Thủy điện công suất 49,6 MW

(HBĐT) - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) tỉnh Hòa Bình, Agribank tỉnh Sơn La và Công ty TNHH Xuân Thiện Sơn La tổ chức lễ ký kết Hợp đồng tín dụng Dự án đầu tư Thủy điện Suối Sập 2A công suất 49,6 MW.

Thành phố Hòa Bình kiểm soát chặt "đầu vào" sản phẩm thịt lợn trong cao điểm dịch tả lợn châu Phi

(HBĐT) - Chỉ đảm bảo được khoảng 25% sản lượng tự cung ứng, thị trường thành phố Hòa Bình mỗi ngày có tới 75% sản lượng thịt lợn phải nhập từ các tỉnh bên ngoài vào, chủ yếu là Phú Thọ và thành phố Hà Nội. Trong cao điểm dịch tả lợn châu Phi (DTLCP), việc kiểm soát chất lượng, nguồn gốc sản phẩm thịt lợn là vấn đề người tiêu dùng quan tâm, lo lắng.

Hiệu quả mô hình sinh kế của phụ nữ xóm Chiềng

(HBĐT) - Chiềng là xóm trung tâm xã Lỗ Sơn, xã vùng sâu khó khăn của huyện Tân Lạc. Xóm có 53 hộ, 238 nhân khẩu, Chi hội Phụ nữ xóm có 54 hội viên. Trong những năm qua, Chi hội Phụ nữ xóm có nhiều hoạt động thiết thực hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững. Một trong những hoạt động thiết thực nhất là thành lập mô hình sinh kế "Nhóm chăn nuôi lợn, bò sinh sản giống bản địa”.

Huyện Yên Thủy chủ động ứng phó dịch tả lợn châu Phi

(HBĐT) - Trước tình hình dịch tả lợn châu Phi (DTLCP) có chiều hướng diễn biến ngày càng phức tạp, thời gian qua, cấp ủy, chính quyền huyện Yên Thủy tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm giảm thiểu thấp nhất nguy cơ xâm nhiễm dịch bệnh thông qua công tác tuyên truyền, vận động, kiểm soát các hoạt động vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ lợn, sản phẩm từ lợn nhập lậu, nghi nhập lậu, không rõ nguồn gốc. Chủ động giám sát chặt chẽ, kịp thời phát hiện sớm các trường hợp lợn mắc DTLCP tại địa bàn và xử lý triệt để, không để lây lan ra diện rộng. Giảm thiểu tác động tiêu cực của dịch bệnh đến nhiệm vụ phát triển KT-XH, giảm thiểu ảnh hưởng đến môi trường do tiêu hủy lợn và các sản phẩm của lợn. Giữ vững ổn định tốc độ chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng.