(HBĐT) - 1. Phạm vi phân bố của các di tích khảo cổ Văn hóa Hòa Bình Văn hoá Hoà Bình không chỉ tồn tại ở Việt Nam mà còn xuất hiện và tồn tại ở nhiều quốc gia thuộc khu vực Đông Nam á, kéo dài từ phía nam Trung Quốc đến đảo Sumatra của Indonexia theo chiều dọc, từ Thái Lan qua Đông Dương sang tận Philippin theo chiều ngang và tồn tại trong khoảng thời gian dài từ cuối kỳ Pleistocene đến giữa kỳ Holocene.


Tại Việt Nam, các di tích văn hoá Hoà Bình phân bố không đều, tập trung nhiều nhất tại 2 tỉnh Hoà Bình (72 điểm) và Thanh Hoá (32 điểm), số còn lại phân bố rải rác ở các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hà Giang, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Bình và Quảng Trị. Các di tích chủ yếu tập trung ở các vùng núi đá vôi tại các thung lũng hoặc các hang động, mái đá. Cư dân Văn hoá Hoà Bình đã có ý thức trong việc chọn lựa nơi cư trú. Các di tích chủ yếu nằm trong các hang động và mái đá cao ráo quanh các thung lũng, có hệ sinh thái phổ tạp thuận lợi cho việc săn bắn và hái lượm. Đặc biệt là rất sẵn nguyên liệu cuội để chế tác công cụ lấy từ các sông, suối chảy qua lòng thung lũng. Hướng của hang động thường là hướng đông - nam, tây- bắc đối với vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm của vùng núi thượng du. Đây là hướng lý tưởng để tránh gió mùa đông bắc, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, đảm bảo đủ nhiệt độ và ánh sáng trực tiếp ban ngày. Các di tích thường phân bố thành từng cụm trong các thung lũng hẹp, mỗi cụm có từ 5 - 7 di tích và diện tích từ 50 - 150m, độ cao trung bình so với mặt ruộng từ 10 - 20m. Ngoài các di chỉ trong hang động và mái đá còn có một bộ phận rất nhỏ cư dân Văn hoá Hoà Bình phân bố ngoài trời và thềm sông, suối.

2. Cuộc sống của cư dân Văn hóa Hòa Bình

Về công cụ sản xuất, các di vật chính của thời kỳ Văn hóa Hòa Bình tại tỉnh Hòa Bình và các tỉnh từ Quảng Bình đến Thái Nguyên là các dụng cụ bằng đá cuội ghè đẽo tương đối thô sơ một mặt hoặc chỉ phần lưỡi. Cuội là những hòn đá trên núi bị nước lũ cuốn đi, va chạm, chà xát lẫn nhau trong lòng sông, lòng suối làm vỡ nhỏ ra và các góc cạnh bị mài mòn. Cuội thường hình tròn, dẹp hay bầu dục; bề mặt nhẵn tự nhiên của cuội được gọi là vỏ cuội. Người cổ Hòa Bình nhặt cuội lòng sông hay trên bờ và chọn một số lượng vừa đủ những hòn cuội có hình dạng và cỡ lớn thích hợp với thứ dụng cụ theo ý muốn. Họ chỉ đẽo một đầu hay một bên rìa cuội để có cạnh sắc và tận dụng nguyên trạng phần vỏ cuội nhẵn mòn tự nhiên. Các nhà khảo cổ đã thử nghiệm đẽo cuội hầu tìm hiểu kỹ thuật người xưa. Kỹ thuật đẽo đá là sự kết hợp tổng hoà của các thủ pháp chẻ, bổ, đập, bẻ, ghè- đẽo, mài- cưa. Về loại hình rất phong phú và đa dạng như công cụ hình đĩa, công cụ 1/4 viên cuội, công cụ hình hạnh nhân, nạo lưỡi dài, nạo lưỡi ngắn, rìu dài, rìu ngắn, bôn, rìu mài lưỡi... Ngoài công cụ đá, người Hoà Bình đã biết chế tác và sử dụng một số công cụ bằng xương, sừng và vỏ trai như: rìu xương, đục xương, mũi nhọn và nạo vỏ trai. Trong những lớp đất thuộc nền Văn hoá Hoà Bình muộn đã tìm thấy rất nhiều mảnh gốm thô làm từ đất nung nặn bằng tay hoặc làm bằng khuôn đan, sau đó trang trí hoa văn vặn thừng, khắc vạch và trổ lỗ. Về tầng văn hoá là vết tích của người xưa để lại, tuỳ thuộc vào thời gian cư trú mà tầng văn hoá có độ dày mỏng khác nhau. Tầng văn hoá có độ dày từ 0,3 – 4 m như di tích hang xóm Trại ở huyện Lạc Sơn. Thành phần cấu tạo chủ yếu của tầng văn hoá gồm: đất sét vôi xen các vỏ nhuyễn thể chủ yếu là ốc suối và ốc núi, xương cốt động vật, vỏ và hạt một số loài thảo mộc, dấu tích than tro, di cốt người và mộ táng, công cụ chủ yếu là công cụ đá, các phế liệu chế tác và mảnh gốm. Nhìn chung, các di tích Văn hoá Hoà Bình có nhiều lớp phức tạp, các lớp đó ít nhiều phản ánh tính chất, giai đoạn hoặc mức độ sớm, muộn của Văn hoá Hoà Bình. Về mộ táng, cư dân Văn hoá Hoà Bình thường chôn người chết ngay trong nơi cư trú. Mộ có thể đặt ngay trong góc hang hoặc gần bếp lửa. Điều này phản ánh tâm lý của người nguyên thuỷ muốn người chết ở gần mình hơn, được nghỉ ngơi ở chỗ sinh hoạt thường ngày để tạo sự đầm ấm và tránh thú dữ ăn thịt. Hầu hết thi hài người chết được rắc thổ hoàng sau khi chôn và chủ yếu được chôn theo tư thế nằm co bó gối. Đáy mộ có lót than tro, thổ hoàng, đá răm. Đa số xung quanh mộ được ghè đá làm hộp mộ và người chết thường được chôn theo những công cụ bằng đá, đồ trang sức. Con người, xã hội và kinh tế trong thời đại Văn hoá Hoà Bình đã có những bước chuyển biến về sinh học, phương thức kiếm sống và đời sống xã hội. Về con người, họ từ người vượn Homeretur tiến hoá thành người hiện đại Homosapiens. Về phương thức kiếm sống, từ khởi điểm cho đến một thời gian dài trong thời đại Văn hoá Hoà Bình, cư dân sống bằng săn bắn và hái lượm. Đến giai đoạn Hoà Bình muộn, với sự ra đời của kỹ thuật mài, con người mới chuyển từ kinh tế khai thác tự nhiên sang kinh tế sản xuất nông nghiệp, dù mới ở mức độ hình thành sơ khai. Lúc này săn bắn và hái lượm không còn giữ vai trò độc tôn nhưng vẫn giữ vai trò chủ đạo, chăn nuôi vẫn chưa ra đời. Về mặt chế độ xã hội, cư dân Văn hoá Hoà Bình sống trong chế độ mẫu quyền, tụ cư thành những gia đình lớn. Điều đó thật dễ hiểu khi mà những tàn tích thức ăn còn lại được các nhà khảo cổ học phân tích cho thấy người Hoà Bình hái lượm trội hơn săn bắt. Phụ nữ không chỉ sinh nở mà còn là nhân lực chính cho hoạt động hái lượm, tạo nguồn thực phẩm chính và ổn định vì thế mà họ chiếm vai trò chủ đạo trong cộng đồng.

(Còn nữa)
                                                                                  P.V (TH)

Bài 4: Một số di tích khảo cổ tiêu biểu của Văn hóa Hòa Bình

Các tin khác


Khai trương trưng bày hiện vật, tư tiệu bảo; trưng bày sách, báo chủ đề về “Văn hóa Hòa Bình”

(HBĐT) - Ngày 17/10, UBND tỉnh tổ chức Khai trương trưng bày hiện vật, tư tiệu bảo tàng; trưng bày sách, báo, tạp chí chủ đề về "Văn hóa Hòa Bình” và triển lãm ảnh đẹp du lịch Hòa Bình năm 2017. Đến dự có các đồng chí lãnh đạo: Trần Đăng Ninh, Phó BÍ thư TT Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Hoàng Văn Tứ, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; Nguyễn Văn Chương, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; các đồng chí lãnh đạo các Sở, Ban, ngành, đoàn thể tỉnh và đông đảo các em học sinh trên địa bàn.

Triển lãm màu nước Quốc tế lần thứ hai tại Việt Nam

Từ ngày 23/10-15/11, Triển lãm màu nước quốc tế lần thứ hai sẽ được Hội Màu nước Quốc tế - chi nhánh tại Việt Nam (IWS Việt Nam) tổ chức tại Bảo tàng Hà Nội (đường Phạm Hùng, Nam Từ Liêm, Hà Nội).

Khám phá vẻ đẹp hang Muối

(HBĐT) - Hang Muối là một mái đá nằm trong khối đá vôi Chiềng Khến, thuộc thị trấn Mường Khến, huyện Tân Lạc, là di tích khảo cổ cấp quốc gia. Đây là nơi đọng lại nhiều dấu ấn của một nền Văn hóa Hòa Bình nổi tiếng - cái nôi văn hóa của người Việt cổ thời xa xưa.

Văn hóa Hòa Bình tại tỉnh Hòa Bình

(HBĐT) - Tại tỉnh Hòa Bình, các di tích khảo cổ Văn hóa Hòa Bình phân bố ở hầu khắp các huyện, thành phố. Theo số liệu thống kê của Viện Khảo cổ học Việt Nam năm 1989, tỉnh Hòa Bình có 69 địa điểm di tích Văn hóa Hòa Bình. Các di tích đều nằm trong các hang động và mái đá cao ráo quanh các thung lũng, có hệ sinh thái phổ tạp thuận lợi cho việc săn bắt và hái lượm. Đặc biệt rất sẵn nguyên liệu cuội để chế tác công cụ lấy từ các sông, suối chảy qua lòng thung lũng.

Đưa Mo Mường trở thành di sản văn hóa phi vật thể

(HBĐT) - Người Mường sử dụng mo để thực hành các nghi lễ phổ biến trong đời sống. Có 23 nghi lễ sử dụng mo, chia thành 4 nhóm chính. Đó là nhóm nghi lễ cầu phúc, cầu lộc, nghi lễ gọi linh hồn con người; nghi lễ trừ tà ma, cầu yên, cầu sức và nghi lễ đặc biệt là tang lễ. Như vậy, Mo gắn với cuộc đời một con người ngay từ khi sinh ra trong lễ mụ sinh, lễ vía; cho đến khi dựng vợ, gả chồng là lễ cưới; cầu yên, cầu sức trong lễ cúng ma nhà, ma rừng cho đến khi nằm xuống.

85 Năm vinh danh toàn cầu “Văn hóa Hòa Bình”

(HBĐT) - Vào khoảng những năm 20 - 30 của thế kỷ XX, công cuộc khai thác thuộc địa đã tạo điều kiện cho các nhà địa chất, khảo cổ Pháp phát hiện hàng loạt di tích tiền sử, trong đó tiêu biểu nhất là Văn hóa Hòa Bình gắn với tên tuổi nữ tiến sĩ khảo cổ học Madelain Colani.