(HBĐT) - Là phong trào thi đua yêu nước của nông dân, các cấp Hội Nông dân (HND) có nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, phát triển phong trào thi đua SX-KD giỏi trong tình hình mới; quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, thực hiện bằng được lời dạy của Người: "Làm cho người nghèo thì đủ ăn; người đủ ăn thì khá, giàu; người khá, giàu thì giàu thêm".
Bài 2 - Nâng cao hiệu quả phong trào thi đua sản xuất - kinh doanh giỏi

 
Nông dân Phạm Tiến Sinh, đội 2, khu Thống Nhất, thị trấn Ba Hàng Đồi (Lạc Thủy) là người đầu tiên  của tỉnh xây dựng mô hình trồng dưa trong nhà kính ứng dụng công nghệ Isarel.

 
Đưa khoa học công nghệ đến gần nông dân

Nền nông nghiệp nước ta ngày càng chịu tác động mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0. Tỉnh đã định hướng bằng Quyết định số 1604/QĐ-UBND, ngày 31/8/2015 phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020. Trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường và người tiêu dùng, đòi hỏi nông dân phải nâng cao trình độ, ứng dụng tiến bộ KHKT, công nghệ cao (CNC) phù hợp để phát triển sản xuất. Giúp giảm công lao động, thất thoát do thiên tai, dịch bệnh, tiết kiệm chi phí, đảm bảo đầu ra, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.

Năm 2016, nông dân Phạm Tiến Sinh, Công ty TNHH MTV Hòa Bình GAP, thị trấn Ba Hàng Đồi (Lạc Thủy) đã tạo đột phá với mô hình trồng dưa trong nhà kính công nghệ Isarel đầu tiên của tỉnh. Toàn bộ cây được trồng bằng phương pháp thủy canh theo quy trình VietGAP. Hệ thống điều khiển nhiệt độ, ánh sáng thông minh, hệ thống tưới nhỏ giọt Isarel, cảm biến nhiệt độ… đều được kết nối với bộ điều khiển trung tâm. Các khâu chăm sóc được điều chỉnh tự động theo yêu cầu của từng loại cây trồng trong bộ nhớ lập trình.

Theo ông Sinh, sử dụng công nghệ thông minh giúp cây trồng được chăm sóc tốt nhất, loại bỏ yếu tố mùa vụ, tránh sâu bệnh, thời gian thu hoạch ngắn; tiết kiệm nhiều loại chi phí. Vì vậy, năng suất, chất lượng sản phẩm cao hơn rất nhiều. Các sản phẩm của công ty đều tiêu thụ nhanh, mang về doanh thu khoảng 2 tỷ đồng/năm. Hiện, quy mô sản xuất đã mở rộng trên 4 ha, được sử dụng thêm công nghệ truy xuất nguồn gốc để bảo vệ thương hiệu. Gây ấn tượng với mô hình sản xuất hiện đại đang đi đầu xu thế, ông là 1 trong 4 nông dân tiêu biểu được HND tỉnh lựa chọn tham gia cuộc thi "Làm nông thời 4.0” do Báo Nông thôn Ngày nay phối hợp tổ chức.

Với vai trò cầu nối đưa KHCN đến gần nông dân, các cấp Hội đã làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục hội viên nâng cao kiến thức, hiểu biết xã hội; nâng cao năng lực ứng dụng KHKT, tiếp cận thị trường; tăng cường các hoạt động dạy nghề. Tạo động lực cho nông dân từng bước tiếp cận nền nông nghiệp 4.0. Nhờ vậy, nông dân ngày càng mạnh dạn, áp dụng thuần thục những tiến bộ KHKT, thành tựu CMCN 4.0 vào sản xuất nông nghiệp như: công nghệ phun tưới tự động; máy bay không người lái phun thuốc BVTV; mạng cảm biến thông minh trong nhà kính; phương pháp nuôi cấy mô; chăn nuôi an toàn sinh học, quy trình sản xuất VietGAP. Các ứng dụng KHKT trong một số khâu sản xuất còn hạn chế như sơ chế, bảo quản, chế biến được khuyến khích đẩy mạnh. Đến nay, toàn tỉnh có hàng nghìn mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng tiến bộ KHKT, CNC của hội viên nông dân đem lại hiệu quả kinh tế. Điển hình như ông Nguyễn Duy Lành, thôn Bột, xã Phú Thành (Lạc Thủy) với mô hình trang trại trồng trọt kết hợp chăn nuôi, thu nhập 6 tỷ đồng/năm; bà Đặng Thị Thu, thị trấn Cao Phong (Cao Phong) thu nhập khoảng 5 tỷ đồng/năm từ vườn cam VietGAP…

Đồng chí Lê Văn Thạch, Phó Chủ tịch HND tỉnh đánh giá: Những năm qua, các phong trào nông dân, nổi bật là phong trào thi đua SX-KD giỏi đã tác động tích cực đến thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đến nay, giá trị thu được trên 1 ha đất sản xuất bình quân đạt trên 140 triệu đồng/ha (tăng trên 2,2 lần so với năm 2010). Đời sống người dân được cải thiện rõ rệt, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc, góp phần củng cố tổ chức Hội, khẳng định vai trò, vị thế của nông dân trong phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Qua đó, đã hình thành những vùng sản xuất chuyên canh, cánh đồng mẫu lớn. Tạo nên những thương hiệu nông sản hàng hoá đặc trưng, được đảm bảo tiêu thụ bởi các chuỗi giá trị hoạt động hiệu quả. Với các sản phẩm chè, cam, bưởi, thịt lợn, thịt gà, thịt dê, cá, rau su su…, toàn tỉnh đã xây dựng được 51 chuỗi cung ứng nông sản thực phẩm an toàn. Nông sản của tỉnh đã vươn tới nhiều thị trường, có mặt trên mọi miền đất nước. Ấn tượng nhất là sản phẩm cam Cao Phong đã vượt qua nhiều quy trình kiểm định chất lượng để có mặt, phục vụ ở hạng thương gia của hãng hàng không Vietnam Airline.

Tiếp tục nâng cao chất lượng phong trào sản xuất - kinh doanh giỏi trong tình hình mới

Trong quá trình thực hiện, phong trào SX-KD giỏi đã cho thấy nhiều hạn chế: Phong trào phát triển chưa đồng đều, chất lượng chưa cao; công tác tuyên truyền chưa đi vào chiều sâu; quy mô sản xuất còn nhỏ, phương thức sản xuất cá thể, tự phát, trình độ KHKT, quản lý còn yếu; chất lượng sản phẩm chưa đạt yêu cầu…

Để nâng cao hiệu quả phong trào, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Trên cơ sở những văn bản của T.Ư Hội ban hành, các cấp HND tỉnh bám sát tình hình thực tế địa phương để thực hiện các giải pháp. Tích cực tham mưu cấp ủy, chính quyền tập trung nguồn lực hỗ trợ nông dân phát triển nông nghiệp, xây dựng NTM.

Các cấp Hội tăng cường liên kết đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp kỹ thuật cao. Khai thác hiệu quả nguồn vốn từ hoạt động tín chấp; vận động nông dân liên kết để tập trung ruộng đất, nâng quy mô sản xuất; phát triển các mô hình trang trại, HTX. Đồng thời, đẩy mạnh hoạt động quảng bá sản phẩm, làm cầu nối liên kết, hỗ trợ tiêu thụ cho nông dân. Gắn phong trào SX-KD giỏi với công tác củng cố, xây dựng tổ chức Hội, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên nông dân.

Đồng chí Nguyễn Thị Cẩm Phương, Chủ tịch HND tỉnh nhận định: Thực tế tại tỉnh ta, quy mô sản xuất chủ yếu vẫn là nhỏ lẻ, nhiều hộ chưa quan tâm đến ATTP trong sản xuất, khiến sản phẩm không đáp ứng được yêu cầu thị trường, khó tiêu thụ. Trình độ ứng dụng KHCN của nông dân chưa cao, sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời tiết. Một số HTX, tổ hợp tác còn yếu về năng lực quản trị, kết nối cung cầu. Vì vậy, để nền nông nghiệp phát triển bền vững, trước hết cần thay đổi tư duy của nông dân, phát huy vai trò cầu nối của các cấp Hội giúp nông dân tiếp cận những công nghệ tiên tiến, CNC. Mỗi địa phương cần quy hoạch vùng sản xuất tập trung; có các chính sách hỗ trợ nông dân về vốn, KHKT, tạo điều kiện để doanh nghiệp, HTX đầu tư vào nông nghiệp, liên kết sản xuất. Bố trí nguồn lực đầu tư hạ tầng sản xuất, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ KHKT. Đặc biệt, tập trung thực hiện Chỉ thị số 28-CT/TU của BTV Tỉnh ủy về tiếp tục thực hiện Đề án "Nâng cao vai trò, trách nhiệm của HND Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng NTM và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam giai đoạn 2010- 2020".

                                                                                 Thu Hằng
 

Các tin khác


Ký sự bản Mông


(HBĐT) - Sống giữa núi rừng Tây Bắc, người dân bản Mông vẫn luôn mạnh mẽ, kiên cường, với khát vọng vươn lên trở thành bản, làng văn minh dựa trên nền tảng truyền thống, là điểm đến hấp dẫn bạn bè phương xa. Bản Mông hôm nay đã khác, đã có những thứ tạo nên sợi dây níu chân người ở lại.
Bài 2 - Hiện thực hóa khát vọng "nảy mầm xanh trên đá”

Ký sự bản Mông

(HBĐT) - "Tôi có may mắn được đặt chân đến nhiều vùng đất, gặp gỡ nhiều con người thuộc nhiều dân tộc khác nhau. Ở mỗi nơi, cái tình của con người lại được thể hiện bằng những cách khác nhau, nhưng họ đều chung sự chân thành. Và ở bản Mông thuộc 2 xã Hang Kia, Pà Cò (Mai Châu) cũng vậy, đã lâu mới quay trở lại, vẫn những con người chân chất, hiền hòa. Bản Mông năm nào nay đã khoác lên mình "chiếc áo” mới của cơ sở hạ tầng khang trang, chất lượng cuộc sống được cải thiện, và hơn thế nữa là sự đoàn kết cộng đồng, tin tưởng vào Đảng, chính quyền của người Mông". Đó là lời tâm huyết từ một sỹ quan quân đội, người con của bản làng, Thiếu tá Hàng A Phứ, Chính trị viên phó Ban CHQS huyện Mai Châu.
Bài 1: "Sinh ra từ làng, phải góp sức cho làng!”

Mo Mường Hòa Bình hướng tới di sản văn hóa thế giới

(HBĐT) - Với những giá trị vô cùng đặc sắc, quý giá, nhưng mo Mường đang đứng trước nguy cơ mai một. Tỉnh đã triển khai các biện pháp bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu này và có những tín hiệu vui trên đường tới di sản văn hóa thế giới.
Bài 2 - Đường tới di sản thế giới

Mo Mường Hòa Bình hướng tới di sản văn hóa thế giới

(HBĐT) - Người Mường ở Việt Nam sống tập trung đông nhất tại tỉnh Hòa Bình. Hòa Bình cũng là cái nôi của nền "Văn hóa Hòa Bình” nổi tiếng, nơi có 63,3% dân số là dân tộc Mường. Suốt chiều dài lịch sử, người Mường đã sáng tạo, chắt lọc, lưu giữ kho tàng di sản văn hóa phong phú, đặc sắc. Trong đó, mo Mường là một hiện tượng văn hóa nổi trội, di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu, đặc biệt, quý giá, có giá trị tư tưởng, nhân văn sâu sắc.
Bài 1 - Khẳng định giá trị tiêu biểu, đặc biệt của mo Mường

Bức tranh cuộc sống mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số

(HBĐT) - Chất lượng cuộc sống người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) đã được nâng lên rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm, xuất hiện ngày càng nhiều hộ làm kinh tế giỏi. Tuy nhiên, để vùng đồng bào DTTS phát triển đồng đều, thu hẹp khoảng cách với vùng thuận lợi, thì cả hệ thống chính trị cần quyết liệt thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, nhằm hiện thực hóa mục tiêu giảm nghèo bền vững tại các xã vùng sâu, xa, vùng đặc biệt khó khăn (ĐBKK).
Bài 2 - Nâng cao chất lượng đời sống người dân 

Bức tranh cuộc sống mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số

(HBĐT) - Là cửa ngõ vùng Tây Bắc, tỉnh Hòa Bình có dân số trên 83 vạn người, với 6 dân tộc chủ yếu là: Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao, Mông… trong đó, dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm 74,31%. Trong những năm qua, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về quan tâm, hỗ trợ phát triển vùng đồng bào DTTS, tỉnh đã có nhiều giải pháp, hoạt động cụ thể nhằm nâng cao chất lượng đời sống vùng đồng bào DTTS, thúc đẩy KT - XH phát triển, góp phần đảm bảo ANCT - TTATXH địa phương.
Bài 1: Ưu tiên nguồn vốn đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Xem các tin đã đưa ngày:
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục