(HBĐT) - Cuộc sống như một dòng chảy không ngừng. Chợp mắt, đi qua miền bình yên mùa xuân diệu kỳ rồi ngẩn ngơ hàng phượng nở rực vào mùa hạ bỏng rát. Thoáng chốc, lòng lại bâng khuâng, xuyến xao khi mùa Trung thu gõ cửa.

 

Giờ lớn lắm rồi, đếm thoáng qua cũng đã hai mươi mùa Trung thu có lẻ. Tâm trạng bây giờ cũng khác xưa. Hết rồi cái khoảnh khắc sáng dậy chạy lon ton tới tờ lịch treo tường, bấm đốt ngón tay xem... mấy ngày nữa thì Trung thu hay vòi vĩnh bằng được kẹo bột, quả thị mỗi khi bà đi phiên chợ rằm. Nhưng ký ức về những mùa Trung thu tuổi thơ  luôn rất đẹp và luôn khiến con người  ta hoài niệm. Người đời nói cũng đâu có sai. Cho dù no đói, thiếu thốn hay đủ đầy, tuổi thơ luôn hồn nhiên và thánh thiện nhất.

 

Chẳng còn gì vui và hạnh phúc hơn khi được chụm đầu cùng đám bạn thân nhem nhuốc bùn đất, tóc vàng hoe cười toe toét vô lo, vô nghĩ, ngồi bên gốc sung già tưởng tượng đến ngày Trung thu. Khuôn mặt ai nấy đều hân hoan, vui mừng đến lạ. Trung thu là được chơi mà trẻ con chơi là số 1. Chơi xong lại có quà. Vui không có ngôn từ nào tả xiết! Niềm vui háo hức đến độ chẳng đoái hoài gì bữa cơm chiều, chân quên xỏ dép, chạy ù ra đường làng, hòa cùng đội múa lân, đội trống, miệng lẩm nhẩm theo khúc hát quen thuộc: “Chiếc đèn ông sao, sao năm cánh tươi màu...”

 

Ngoài lân, trống được chính quyền thôn, xóm đầu tư làm “không khí”, phục vụ con trẻ năm này tới năm khác, đèn lồng trong đêm Trung thu cũng không thể nào thiếu được. Mỗi người tự trang bị cho mình một chiếc đèn lồng góp vui trong đêm hội trăng rằm. Dù không khéo tay, làm xấu, làm lâu nhưng cũng cố gắng làm bằng được để cho bằng bạn, bằng bè. Trẻ con mà đôi khi cũng tự trọng và đố kỵ cao lắm! Đèn lồng mới nhìn thoáng qua thấy rất đơn giản nhưng công sức bỏ ra không nhỏ chút nào. Tính sơ sơ  mất nguyên một buổi chọn cật tre rồi vót thật trơn phơi nắng lấy độ dẻo. Một buổi chọn giấy, cắt dán xung quanh lồng đèn, ngày cuối cùng là hoàn thiện, thử nghiệm cho nến vào. Nhiều loạt đèn đã được các “nhà phát minh nhí” sáng tạo rất đẹp, độc đáo: đèn ông sao cách điệu có những tua rua bằng kim tuyến, đèn cá chép cầu kỳ đính kèm những những chiếc vảy gỗ trông như thật rồi những chiếc đèn đơn giản hơn được làm từ vỏ lon lavie, hộp sữa ông thọ… Tất thảy muôn màu, muôn vẻ! Khi hoàn thành chạy khắp nhà này tới nhà khác để khoe sản phẩm, nhanh chóng quên luôn bàn tay máu đang rỉ máu vì xây xước với tre.

 

Đêm chính Trung thu, “trăng sáng như gương”, không một gợn mây che lấp. Trăng phủ lấp lánh vạn vật, rải lên đường quê tuyệt đẹp. Tiếng gọi nhau í ới của đám trẻ con, tiếng cười giòn tan rộn lên trong đêm vắng quyện vào tiếng đội trống, đội lân nghe thôi đã rạo rực trong lòng. Lâu lâu tụi nhỏ lại đứng quây quần, chụm đầu vào nhau che gió để mồi lửa thắp sáng vì đèn bị tắt. Có người thì vô ý để nến cháy lẹm vào thân đèn, đi hết một vòng xóm là đèn cũng thiêu rụi. Nhìn khuôn mặt nuối tiếc đến ngẩn ngơ cầm mỗi cái cán trong tay trông buồn cười nhưng cũng thương đến lạ. Có mùa Trung thu, mưa về bất chợt, niềm vui bị “giảm nhiệt” chút xíu, những đứa trẻ lại cuống cuồng cong người xuống vừa chạy, vừa che đèn vì sợ bị nước lọt vào, làm bong đi lớp giấy ngũ sắc dán keo, lồng đèn bị hỏng.

 

Hò hét mệt cũng đến lúc…phá cỗ. Cỗ ở đây chủ yếu là cây nhà, lá vườn của mỗi gia đình gom góp. Nàỳ là bưởi, hồng, ổi, táo, thị... quả nào, quả nấy tươi roi rói và thơm phưng phức. Có năm, “sang” hơn được ăn bánh dẻo, bánh nướng. Nhưng đều là “madein... mẹ”. ăn bánh madein mẹ ngon chẳng kém bánh mua ở cửa hàng lộng lẫy bởi ngoài nguyên liệu chính mẹ còn gửi cả tình thương yêu bao la ngọt ngào vào trong mỗi chiếc bánh và đó cũng là loại bánh đặc biệt nhất trong những mùa Trung thu của đời người.

 

Ánh trăng  vẫn chung tình, sáng tròn vằng vặc mỗi độ Trung thu về. Duy có chăng là sự khác lạ về cách thức chơi, thưởng thức Trung thu từ người lớn đến trẻ con. Cái gì cũng mua sẵn trên thị trường. âu đó cũng là quy luật cuộc sống trong thời đại mở cửa, hiện đại hóa. Thế nhưng với những người hoài cổ vẫn tiếc nhớ những mùa Trung thu xưa. Bao nhiêu mùa trăng qua đi, lê bước chân qua nhiều miền đất của cuộc sống mưu sinh, mỗi dạo Trung thu về, dù ở đâu vẫn thấy lòng rộn lên  háo hức của thời con trẻ muốn rình rang chạy theo tiếng trống.

 

 

                                   Cao Văn Quyền

   (Lớp 55 LTKT, khoa Kế toán, trường ĐH Thủy lợi)

 

 

 

Các tin khác

Không có hình ảnh
Không có hình ảnh
Không có hình ảnh

Vùng đất một thời oanh liệt

 (HBĐT) - Tôi có người anh tham gia quân đội năm 1968, hy sinh trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, mấy chục năm qua, ngoài tấm bằng "Tổ quốc ghi công”, gia đình chỉ còn lưu giữ duy nhất tờ giấy báo tử mang tên Nguyễn Văn Luyện, sinh năm 1937, quê quán xóm Đá Bạc, xã Liên Sơn, Lương Sơn, Hòa Bình, đơn vị: "Tiểu đoàn bộ 8 - KB”, hy sinh "tại mặt trận phía Nam”. Chị tôi cùng các cháu đã cất công tìm kiếm khắp nơi, kể cả đường tâm linh, ngoại cảm nhưng tất cả đều vô vọng.

Quê hương đổi mới

(HBĐT) - Quê tôi là vùng đồng chiêm trũng nghèo, người dân chịu thương, chịu khó, lam lũ quanh năm nhưng cuộc sống thiếu trước, hụt sau. Mỗi lần về quê, trong tôi đều có những cảm nhận khác nhau và lần này cũng vậy. Đến đầu làng, tâm hồn tôi đã dâng trào cảm xúc, hít một hơi thật sâu vào lồng ngực, cảm giác thật hạnh phúc. Đó là cảm nhận của đứa con xa nhà lâu ngày mới trở về bên mái ấm gia đình, được sà vào vòng tay yêu thương của cha mẹ.

Bức tranh mùa vàng

(HBĐT) - Chiều hè, tôi muốn được đứng trên bờ đê chạy theo con sông hiền hòa quê tôi để hóng gió. Những cơn gió mát rượi từ dưới lòng sông thổi lên quyện với hương thơm nồng của cánh đồng lúa chín.

Một thời phượng vỹ

(HBĐT) - Không biết tự bao giờ sân trường tôi đã có hàng phượng vĩ. Những gốc phượng khẳng khiu lạc giữa cơ man nào là bê tông, cốt thép, cửa kính tường vôi… cứ lầm lũi như thế suốt những tháng ngày đông giá. Trong nắng tháng tư hanh vàng, nắng tháng 6 đổ lửa xuống sân trường, tán phượng đơn sơ chỉ đủ làm nên chút bóng mát đơn sơ. Nhìn lên tán cây đang đơm đầy nụ hoa, bác lao công dừng tay chổi:

Những cơn mưa mùa hạ


(HBĐT) - Cả buổi sáng chỉ dọn dẹp hai tầng ngôi nhà nhỏ xíu với hai phòng ngủ, phòng khách, phòng ăn, gian bếp, vậy mà mãi đến non trưa mới xong. Nằm ngả lưng xuống giường thì nghe vọng xa xa tiếng sấm. Nhìn quầng sáng hắt bên ngoài cửa kính chợt nghĩ: nắng to vậy sao mưa được.

Ngoại ô xưa

(HBĐT) - Ở thành phố này bấy nhiêu năm, sau bao bận xách va li tới những miền đất lạ, tôi mới nhớ ra ngay kề thành phố mình còn một khu ngoại ô lạ lẫm. Mùa đông, rồi mùa hạ, có bao thứ rau củ xuất hiện trên chiếc đĩa sứ tráng men sáng bóng, những gam màu sinh tố trong li thủy tinh nhưng đã mấy ai biết được mảnh đất ngoại ô nhỏ bé đã phôi thai những sắc màu ấy như thế nào.