Tượng đài chiến thắng Tu Vũ - nơi mở đầu thắng lợi của chiến dịch giải phóng Hòa Bình.

Tượng đài chiến thắng Tu Vũ - nơi mở đầu thắng lợi của chiến dịch giải phóng Hòa Bình.

(HBĐT) - Sau chiến thắng Biên giới (23/10/1950), ta chủ động chuyển sang tiến công địch trên khắp các chiến trường, quyền chủ động về chiến lược của địch trên chiến trường Bắc Bộ đã mất. Tuy lực lượng của địch trên chiến trường Đông Dương còn đông (gần 25 vạn tên) nhưng không đủ để làm nhiệm vụ chiếm đóng và cơ động. Để gỡ thế bí, địch phải điều chỉnh lại thế trận, rút 29 vị trí ở hữu ngạn sông Hồng, trong đó có hàng loạt vị trí ở Hòa Bình về phòng thủ đồng bằng Bắc bộ. Ngày 8/11/1950, địch rút chạy khỏi Hòa Bình, “Bức tường thép bên sông Đà” bị sụp đổ, Hòa Bình được giải phóng lần thứ nhất.

 

Để cứu vãn tình thế, Pháp thay thế tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp tại Việt Nam và vạch ra một kế hoạch phản công, quyết định tung toàn bộ lực lượng cơ động ra, mở cuộc hành quân chiếm Hòa Bình, nối lại hành lang đông  - tây; lập lại tam giác sắt: Hà Nội - Sơn Tây - Hòa Bình, chặn đường vận chuyển tiếp tế của ta lên Việt Bắc. Chiến dịch do đích thân Sa - lăng, Phó tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương trực tiếp chỉ huy và được chia làm 2 đợt. Đợt 1 địch đã huy động 3 binh đoàn cơ động, 2 đại đội biệt kích, 1 tiểu đoàn dù có thiết giáp, pháo binh và máy bay yểm trợ. Từ Hà Đông, địch chia 2 mũi theo trục đường 21, lấy Chợ Bến làm hợp điểm. Ngày 10/1/1954, có 14 máy bay Đa - cô - ta đổ 500 quân dù xuống đồi Sim (Chợ Bến). Sau 2 ngày, dịch đánh chiếm được khu vực này, đóng chốt 20 vị trí theo dọc đường 21 từ Xuân Mai đến Chợ Bến và từ Ba Thá vào Miếu Môn, hình thành tuyến phòng thủ đường 21 ở phía nam nối với tuyến đường 6. Đợt 2 bắt đầu từ ngày 13/11/1951, địch mở cuộc hành quân “Lô - tuýt” với 5 binh đoàn cơ động, 3 tiểu đoàn dù cùng hàng trăm xe cơ giới, hàng chục ca nô, máy bay phối hợp tiến công bằng đường sông, đường bộ, đường không để đánh chiếm thị xã Hòa Bình (TXHB) và khu vực đường số 6, triền sông Đà thuộc 2 huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn. Đến ngày 14/11/1951, với sự yểm trợ của hỏa lực mạnh cùng hàng chục máy bay địch đã đánh chiếm các điểm cao trên trục đường 6. Tính từ 11-17h ngày 14/11/ 1951, địch đã thả 3 tiểu đoàn dù đánh chiếm Thịnh Lang, chiếm núi Ba Vành, khống chế khu vực TXHB. Đánh chiếm điểm cao Tu Vũ thuộc huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Để bảo vệ khu vực đã đánh chiếm, địch rải quân chốt giữ trên 50 vị trí và điếm canh ở dọc đường 6, triền sông Đà, nhiều vị trí địch bố trí 1 đại đội trở lên, trang bị hoả lực rất mạnh, có cả đại bác.

Nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp, ngày 18/11/1951, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh kiến nghị mở chiến dịch Hòa Bình. Hồ Chủ tịch và Thường vụ T.ư Đảng hoàn toàn nhất trí với nhận định, đánh giá và kiến nghị của Tổng Quân ủy. Ngày 24/11/1951, BCHT.ư Đảng ra chỉ thị: “Nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch”. Chiến dịch Hòa Bình sẽ đánh địch trên cả 2 mặt trận: chính diện và sau lưng địch. Tổng Quân ủy và Bộ tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ đạo chiến dịch, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trực tiếp làm chỉ huy trưởng chiến dịch. Với quyết tâm: “Chúng ta phải thắng, chỉ được phép thắng, có nhiều khó khăn đấy, có thể phải trả giá rất đắt nhưng vẫn cứ phải làm...”. Về phía tỉnh ta, Tỉnh ủy đã phân công 2 đồng chí tỉnh ủy viên chịu trách nhiệm chỉ đạo các mặt hoạt động cụ thể phục vụ chiến dịch và chỉ đạo Mặt trận Liên Việt tỉnh triệu tập Hội nghị nhân dân về chống giặc với gần 200 đại biểu thuộc mọi thành phần, tầng lớp tham gia. Một số địa phương tổ chức “Hội nghị nhân dân”, “Hội nghị nhà lang”... tạo sự đoàn kết, nhất trí đánh giặc. Lực lượng của ta tham gia chiến dịch gồm 3 Đại đoàn bộ binh 308, 312 và 304; lực lượng phối hợp với chiến dịch gồm Đại đoàn 316, 320 được lệnh tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm ở đồng bằng Bắc bộ, cùng với LLVT các địa phương đánh địch, hỗ trợ nhân dân nổi dậy, phá tề, trừ gian, kìm giữ chân địch, không cho chúng tăng viện lên Hoà Bình. Về phía địa phương, LLVT Hoà Bình có Trung đoàn 12 bộ đội địa phương gồm 1 tiểu đoàn tập trung là Tiểu đoàn 616 (có 5 đại đội) và 5 đại đội địa phương của các huyện: C121 (Lương Sơn), C112 (Lạc Sơn), C116 (Mai Đà), C16 (Kỳ Sơn), C159 (Lạc Thủy). Ngoài ra, ở các xã đều tổ chức lực lượng du kích, với lực lượng từ trung đội đến đại đội. Ngoài lực lượng trực tiếp tham gia chiến đấu, lực lượng dân công phục vụ chiến đấu, tiếp lương, tải đạn, cứu thương, giúp bộ đội xây dựng công sự trận địa, xây dựng doanh trại, đưa bộ đội qua sông... cũng được tổ chức với quân số hàng nghìn người. Chiến dịch Hòa Bình được phân thành 2  đợt. Đợt 1 (10/12/1951 -7/1/1952); đợt 2 (8/1- 25/2/1952).

Ngày 10/12/1951, chiến dịch Hòa Bình chính thức mở màn, tại mặt trận chính, đòn tiến công của 3 đại đoàn 308, 304 và 312 nhằm vào 2 cụm quân chủ yếu của địch đóng ở phân khu TXHB và phân khu sông Đà. Tại phân khu sông Đà, Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) tấn công đồn Tu Vũ (Thanh Sơn - Phú Thọ). Sau hơn một ngày chiến đấu vô cùng ác liệt, đồn Tu Vũ đã bị tiêu diệt, chiến thắng Tu Vũ được coi là trận tấn công lớn nhất của quân đội ta từ trước cho tới thời điểm đó.

 

 

                                                                   Mạnh Hùng

 

Các tin khác

Không có hình ảnh

Tìm hiểu về nhà lang trong xã hội cổ truyền Mường

(HBĐT) - Theo quan điểm chung của giới nghiên cứu cho thấy, chế độ lang - đạo ra đời trong xã hội Mường từ giai đoạn đồ đồng chuyển sang giai đoạn đồ sắt, tương ứng giai đoạn văn hóa Đông Sơn. Nhờ có công cụ bằng kim khí nên năng suất lao động tăng cao, của cải trong xã hội dồi dào hơn trước. Hình thức sở hữu tư nhân chiếm ưu thế tuyệt đối, xã hội phân chia giai cấp diễn ra mạnh mẽ. Giai đoạn đầu khi mới hình thành, chế độ lang - đạo còn gần gũi với nhân dân, đóng vai trò như là tù trưởng, thủ lĩnh, phù hợp với trình độ sản xuất, quản lý xã hội khi đó. Trải qua hàng trăm năm, chế độ lang - đạo tập trung cho mình quyền tuyệt đối về sở hữu tư liệu sản xuất, thậm chí cả người dân của mình, dẫn đến độc quyền trong phân phối sản phẩm, độc quyền trong việc đề ra các luật lệ. Dân Mường phải lệ thuộc và trở thành nông nô, lao động cho các nhà lang. Chế độ này dần thoái hóa, trở nên cực kỳ bảo thủ, phản động cản trở bước tiến của xã hội và dần trở nên mâu thuẫn, đối lập sinh tử với dân Mường và bị đánh đổ trong cách mạng tháng 8/1945. Loạt bài viết này xin lược giới thiệu về nhà lang và chế độ nhà lang nhằm cung cấp cho bạn đọc cái nhìn tuy sơ lược nhưng toàn về chế độ này trong xã hội Mường trước tháng 8/1945.

Chuyện kể về anh hùng Bùi Văn Hợp

(HBĐT) - Con đường bê tông rợp bóng tre đưa chúng tôi đến ngôi nhà nhỏ tại xóm Chiềng 1, xã Vĩnh Đồng, huyện Kim Bôi - nơi anh hùng Bùi Văn Hợp sinh ra và lớn lên. Kín những khoảng tường trong ngôi nhà nhỏ là rất nhiều giấy khen, huân, huy chương. 45 năm sau ngày anh ngã xuống, câu chuyện về anh vẫn có sức sống mãnh liệt, là niềm tự hào của mảnh đất Mường Động anh hùng.

Truyền thống “ đi trước mở đường” tiếp bước tương lai

(HBĐT) - Địa bàn tỉnh là đầu mối giao thông tỏa đia mọi miền đất nước có tầm đặc biệt quan trọng trong thời chiến tranh. Quốc lộ 6 nối liền Thủ đô với các tỉnh đồng bằng qua miền Trung du lên Tây Bắc, sang Lào, vào các tỉnh khu 4, đến chiến trường miền Nam. Trục đường 6 nối liền quốc lộ 21A, 12A, 21B, quốc lộ 15, tất cả hình thành hệ thống GTVT liên hoàn. Trên các tuyến có 5 bến phà là: Bờ, Rút, Thia, Vụ Bản, Chi Nê. Trên các tuyến giao thông có các cầu, cống lớn, nhiều nhịp, khẩu độ hàng chục mét, có nhiều đoạn qua đèo hiểm trở bên núi, bên sông như dốc Chó Treo, đèo Hút Gió…Đó là những trọng điểm xung yếu được xác định là “yết hầu” của tuyến giao thông trên địa bàn, cũng là trọng điểm đánh phá liên tục của giặc Mỹ trong chiến tranh.

Xã Thu Phong âm vang chiến công bắn rơi máy bay Mỹ

(HBĐT)- Mảnh đất anh hùng Thu Phong (Cao Phong) đang từng ngày đổi thay. Thu Phong phủ một màu xanh bạt ngàn của những đồi cam. Trái cam vàng đã đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc nhưng trong tiềm thức của người dân nơi đây luôn âm vang chiến công oanh liệt dùng súng trường bắn rơi máy bay Mỹ ngày 20/7/1966 của 5 dân quân xã Thu Phong.

Nhìn lại đôi nét lịch sử huyện Lạc Sơn, văn hóa Mường qua một bộ sưu tập ảnh quý

(HBĐT) - Hiện nay, tại làng Chiềng Vang ở huyện Lạc Sơn, trong gia đình ông Quách Phẩm còn lưu giữ hơn 100 bức ảnh đen trắng được chụp từ những năm 1930 - 1940 của thế kỷ XX, có giá trị về nhiều mặt. Qua thông tin các bức ảnh có thể cho ta thấy được phần nào về văn hóa, đời sống của người Mường trong thời Pháp thuộc. Trải qua nhiều thăng trầm của thời cuộc, lịch sử tác động đến gia đình cộng với sự dịch chuyển nhiều lần, qua tay nhiều người, chất liệu ảnh cơ bản in trên giấy nên nhiều ảnh đã phai, ố, bong tróc, tuy nhiên có nhiều bức ảnh còn giữ được những nét cơ bản dễ nhận biết.

Đồng chí Lê Duẩn - tấm gương người chiến sỹ cộng sản kiên cường

(HBĐT) - Sau khi đất nước thống nhất, cả nước cùng tiến lên CNXH, đồng chí Lê Duẩn đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm xác định và hoàn chỉnh đường lối cách mạng XHCN ở nước ta. Đường lối ấy thể hiện những tư tưởng lớn của đồng chí về giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; về nắm vững chuyên chính vô sản và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động; về tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt, coi công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ; về nền văn hóa mới và con người mới XHCN; về cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý...