Đồng bào Mông xã Hang Kia  (Mai Châu) làm mèn mén đón Tết  cổ truyền.

Đồng bào Mông xã Hang Kia (Mai Châu) làm mèn mén đón Tết cổ truyền.

(HBĐT) - Lần đầu tiên đến với vùng đất Mai Châu - nơi tập trung đông đảo nhất đồng bào Mông sinh sống trên địa bàn tỉnh, không ít người đã tự đặt ra câu hỏi: Đất không màu mỡ, đá tai mèo lởm chởm, vậy sức mạnh nào để màu xanh của những nương ngô vẫn trải dài tưởng như bất tận trên vùng cao nguyên đá.

 

Tìm câu trả lời chẳng mấy khó khăn khi mỗi ngày, người ta lại bắt gặp hình ảnh đồng bào Mông cần mẫn gùi đất đổ vào từng hốc đá, nhen lên mầm sống trên những mỏm đá tai mèo sắc nhọn, đổi lại là đôi bàn chân gân guốc không ít lần đã toạc da, chảy máu. So với một số dân tộc vùng cao khác, người Mông không chỉ giỏi về kỹ thuật trồng và chăm sóc cây ngô mà họ còn rất giỏi trong chế biến ngô thành nhiều món ăn độc đáo, hấp dẫn.

 

 

Cây ngô - sinh sôi từ hốc đá 

Những ngày cuối năm, khi cái rét níu chân người không muốn rời chăn ấm thì ở nơi đồng bào Mông sinh sống, lấn át màu xám lạnh của những bờ rào đá, những nương ngô xanh mơn mởn vẫn vươn lên mang đến sinh khí mới cho vùng đất Hang Kia, Pà Cò (Mai Châu). Ngô kiên cường và có sức sống mãnh liệt như chính người Mông nơi đây. Ông Giàng A Páo, một người có tuổi ở Hang Kia kể lại: Ngày xa xưa, tổ tiên của người Mông đã biết tận dụng những hốc đá để trồng cây lương thực. Đồng bào gùi đất đổ vào từng hốc đá, mỗi năm trồng được thêm vài cây ngô, nhiều lần như vậy là có vài chục m2 đất rồi, bây giờ nhà nào cũng đủ ngô ăn không còn bị đói nữa. Mặc dù sản xuất gặp nhiều gian nan nhưng đất chẳng phụ công người, những khóm ngô vẫn nhọc nhằn vươn mình trong sương núi để rồi đem ấm no đến với bản xa. Không ăn hết ngô, đồng bào dùng để làm bánh, nấu rượu rồi bán lấy tiền mua sắm các vật dụng khác.

Cùng với việc cải tạo đất sản xuất, sử dụng những giống ngô có năng suất cao nên diện tích, sản lượng ngô ở Mai Châu hiện nay khá ổn định. Theo ông Khà Văn Diện, Phó trưởng phòng NN& PTNT huyện Mai Châu, sau nhiều năm tăng nhanh về diện tích trồng ngô, khoảng gần chục năm trở lại đây, diện tích ngô của huyện đã khá ổn định duy trì ở mức trên dưới 5.000 ha. Năm 2013, diện tích trồng ngô của  toàn huyện trên 5.171 ha với sản lượng xấp xỉ 13.000 tấn.  

Độc đáo món ăn từ ngô của đồng bào Mông 

Ngô là loại cây trồng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống sinh hoạt, phát triển kinh tế của đồng bào vùng cao, trong đó có người Mông. Từ nguồn lương thực này, người Mông đã chế biến thành nhiều món ăn độc đáo với hương vị đậm đà, khó quên. Trong đó phải kể đến 3 món: mèn mén, bánh ngô và rượu ngô. 

Một trong những món ăn phổ biến và đặc trưng nhất của người Mông là mèn mén, thậm chí một dân “phượt” chuyên nghiệp đã từng nói: “Nếu đến với đồng bào Mông mà chưa được ăn mèn mén thì coi như chưa đến”. Để chế biến món mèn mén, người Mông thường sử dụng các giống ngô địa phương rất dẻo và thơm. Mèn mén được chế biến khá cầu kỳ. Ngô sau khi thu hoạch về được tách lấy hạt rồi đem xay, dùng sàng lọc bỏ vỏ và các hạt ngô to. Trước đây, phần lớn các gia đình Mông đều dùng cối đá để xay ngô nên đây là công đoạn mất rất nhiều thời gian và chủ yếu do những người phụ nữ trong gia đình đảm nhiệm. Sau khi bột ngô đã được xay nhỏ, người nấu tính toán lượng bột sao cho vừa đủ với bữa ăn của gia đình rồi cho một ít nước vào đảo đều cho bột ngô ngấm nước. Bột ngô sau khi được đánh tơi cho vào một chiếc chõ đồ bằng gỗ rồi bắc lên chảo đun. Mèn mén khi chín có hương vị thơm ngon, đậm đà. Do là món ăn khô nên mèn mén thường được ăn với một số món canh như bí đỏ, rau cải, canh xương, nước thắng cố... tạo hương vị thơm ngon, đậm đà.  

Không chỉ có mèn mén, ngô còn được chế biến thành nhiều món bánh hấp dẫn được gọi là bánh ngô pá páo cừ. Bánh ngô chủ yếu được làm từ ngô nếp, thơm và dẻo. Vừa nhanh tay chuẩn bị nguyên liệu làm bánh ngô, chị Giàng ý Mỷ (Hang Kia) vừa giới thiệu: Muốn làm bánh ngô phải lên nương lấy ngô khi hạt còn sữa, đem tách vỏ rồi cho vào cối đá nghiền thành bột. Sau đó, bỏ bột ngô đã xay vào trong một chiếc túi treo lên cao để phần nước thoát ra ngoài còn bột ngô được giữ lại bên trong. Để bột ngô nhanh khô người ta đặt túi bột ngô vừa xay vào đống tro bếp để nước hút ra nhanh hơn. Khoảng hai ngày thấy bột ngô trong túi đông lại, cho ra đánh tơi rồi cho một lượng nước vừa đủ vào đảo đều sau đó lăn thành từng chiếc bánh hình tròn giống như bánh rán rồi đem rán vàng. Tùy thuộc sở thích của từng người mà khi nặn bánh, người Mông cho thêm một ít mật mía hoặc mật ong. Nếu ai đã có dịp ăn Tết cùng đồng bào Mông, ngồi bên bếp lửa nồng đượm, rán những chiếc bánh ngô dậy  mùi mật mía, mật ong quyện với mùi thơm dịu của ngô non, hẳn sẽ không bao giờ có thể quên.  

Đơn giản nhưng vẫn thể hiện được độ tinh tế, khéo léo là cảm nhận về ẩm thực Mông. Để tăng tính thẩm mỹ cho món bánh ngô, nhiều gia đình còn gói thành bánh ba cạnh. Cách chuẩn bị nguyên liệu không có gì khác, song những chiếc bánh ngô tròn, nhỏ xinh không được đem rán mà được người Mông dùng chính những bẹ ngô “bánh tẻ” gói lại thành hình tam giác rồi bỏ vào chõ hấp chín. Vẫn giữ được độ dẻo, ngon, những chiếc bánh tam giác dậy mùi thơm ngay từ khi còn trong nồi hấp. Bóc bỏ vỏ, quấn vào đầu đũa hoặc xâu bánh thành chuỗi rồi xách đi chơi là cách mà những đứa bé người Mông thưởng thức món bánh ngô. Giữa màn sương mù dày đặc và cái lạnh có lúc xuống dưới 10oC, hình ảnh những em bé Mông với đôi chân trần, mũi đỏ hoe, trên tay cầm bánh chạy chơi cùng chúng bạn là hình ảnh mà những người trẻ như chúng tôi không thể quên khi đến Pà Cò. Không chỉ là văn hoá ẩm thực, bánh ngô đã thực sự bước vào đời sống, trở thành nét đẹp, một phần tâm hồn của những đứa trẻ trên vùng cao nguyên đá.  

Đến với bản Mông, điện nay đã thắp sáng bản, làng, phần lớn các gia đình  không còn thiếu gạo ăn như trước. Có lẽ chính vì vậy, những món ăn chế biến từ ngô cũng giảm dần, tuy nhiên, không thể phủ nhận sức hấp dẫn lạ kỳ của những món ăn này trong các dịp lễ, Tết và buổi chợ phiên của đồng bào Mông.

 

                                                                                    Hải Yến

 

Các tin khác


Bài 3: Đặc quyền của lang - đạo và quyền tối thượng đề ra luật lệ, thâu tóm tư liệu sản xuất


(HBĐT) -Trên thực tế, lang - đạo nhất là lang kun chúa đất có những đặc quyền như sau:

Dấu ấn Bác Hồ về thăm Hòa Bình qua những tài liệu, hiện vật lịch sử

(HBĐT) - Chúng tôi có mặt tại buổi khai trương phòng trưng bày chuyên đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh với tỉnh Hòa Bình” của Bảo tàng tỉnh vào những ngày cả nước có nhiều hoạt động chào mừng kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và tròn 70 năm ngày Bác lần đầu tiên về thăm tỉnh Hòa Bình (1947- 2017). Đây chính là hoạt động có ý nghĩa để tri ân và tưởng nhớ công ơn to lớn cùng những điều dạy bảo quý báu của Người đối với tỉnh ta.

 Bài 2: Nhận diện lang - đạo

(HBĐT) - Nhìn chung, các sử gia, học giả đều có chung nhận định rằng chế độ lang - đạo của người Mường phát triển cực thịnh vào thời Lê và bị đàn áp suy yếu sau cuộc khởi nghĩa Lê Duy Lương. Vua Minh Mạng (trị vì 1820 - 1841) đã có những cải cách quan trọng như: Chia lại các châu, mường ở miền núi, tước bỏ quyền thế tập cha truyền con nối, tước bỏ các đặc quyền của các tù trưởng ở miền núi, trong đó có lang - đạo ở vùng Mường. Tuy vậy, chế độ lang - đạo vẫn dai dẳng tồn tại và chỉ bị đánh đổ khi cách mạng tháng 8 - 1945 thành công, chế độ mới được thiết lập.

Tìm hiểu về nhà lang trong xã hội cổ truyền Mường

(HBĐT) - Theo quan điểm chung của giới nghiên cứu cho thấy, chế độ lang - đạo ra đời trong xã hội Mường từ giai đoạn đồ đồng chuyển sang giai đoạn đồ sắt, tương ứng giai đoạn văn hóa Đông Sơn. Nhờ có công cụ bằng kim khí nên năng suất lao động tăng cao, của cải trong xã hội dồi dào hơn trước. Hình thức sở hữu tư nhân chiếm ưu thế tuyệt đối, xã hội phân chia giai cấp diễn ra mạnh mẽ. Giai đoạn đầu khi mới hình thành, chế độ lang - đạo còn gần gũi với nhân dân, đóng vai trò như là tù trưởng, thủ lĩnh, phù hợp với trình độ sản xuất, quản lý xã hội khi đó. Trải qua hàng trăm năm, chế độ lang - đạo tập trung cho mình quyền tuyệt đối về sở hữu tư liệu sản xuất, thậm chí cả người dân của mình, dẫn đến độc quyền trong phân phối sản phẩm, độc quyền trong việc đề ra các luật lệ. Dân Mường phải lệ thuộc và trở thành nông nô, lao động cho các nhà lang. Chế độ này dần thoái hóa, trở nên cực kỳ bảo thủ, phản động cản trở bước tiến của xã hội và dần trở nên mâu thuẫn, đối lập sinh tử với dân Mường và bị đánh đổ trong cách mạng tháng 8/1945. Loạt bài viết này xin lược giới thiệu về nhà lang và chế độ nhà lang nhằm cung cấp cho bạn đọc cái nhìn tuy sơ lược nhưng toàn về chế độ này trong xã hội Mường trước tháng 8/1945.

Chuyện kể về anh hùng Bùi Văn Hợp

(HBĐT) - Con đường bê tông rợp bóng tre đưa chúng tôi đến ngôi nhà nhỏ tại xóm Chiềng 1, xã Vĩnh Đồng, huyện Kim Bôi - nơi anh hùng Bùi Văn Hợp sinh ra và lớn lên. Kín những khoảng tường trong ngôi nhà nhỏ là rất nhiều giấy khen, huân, huy chương. 45 năm sau ngày anh ngã xuống, câu chuyện về anh vẫn có sức sống mãnh liệt, là niềm tự hào của mảnh đất Mường Động anh hùng.

Truyền thống “ đi trước mở đường” tiếp bước tương lai

(HBĐT) - Địa bàn tỉnh là đầu mối giao thông tỏa đia mọi miền đất nước có tầm đặc biệt quan trọng trong thời chiến tranh. Quốc lộ 6 nối liền Thủ đô với các tỉnh đồng bằng qua miền Trung du lên Tây Bắc, sang Lào, vào các tỉnh khu 4, đến chiến trường miền Nam. Trục đường 6 nối liền quốc lộ 21A, 12A, 21B, quốc lộ 15, tất cả hình thành hệ thống GTVT liên hoàn. Trên các tuyến có 5 bến phà là: Bờ, Rút, Thia, Vụ Bản, Chi Nê. Trên các tuyến giao thông có các cầu, cống lớn, nhiều nhịp, khẩu độ hàng chục mét, có nhiều đoạn qua đèo hiểm trở bên núi, bên sông như dốc Chó Treo, đèo Hút Gió…Đó là những trọng điểm xung yếu được xác định là “yết hầu” của tuyến giao thông trên địa bàn, cũng là trọng điểm đánh phá liên tục của giặc Mỹ trong chiến tranh.