(HBĐT) - Khi những cành đào phai khoe sắc báo hiệu xuân về, phố phường, nhà cửa trang hoàng đẹp đẽ, rực rỡ sắc màu, trong lòng mỗi người lại hân hoan niềm vui đón Tết. Xen lẫn sự háo hức, ký ức Tết xưa lại hiện về nao nao lòng người hoài cổ.


Đón xuân Mậu Tuất này, ông Nguyễn Văn Miệu, xóm Gò Dọi, xã Mông Hóa (Kỳ Sơn) bước vào ngưỡng tuổi "bát thập”. Trong niềm vui xuân mới đầm ấm, đuề huề bên con cháu, ông bồi hồi nhớ về những cái Tết trên núi Bà Sơn thời kỳ đất nước còn đang trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Vào những năm 1948-1949, thời điểm đó, xã Mông Hóa được chia thành 2 khu A và B dọc 2 bên quốc lộ 6. Thực hiện chiến thuật "vườn không, nhà trống”, nhân dân xã Mông Hóa bỏ lại nhà cửa, ruộng vườn, bên khu A tản cư lên núi Bà Sơn, bên khu B di chuyển vào gần Kim Bôi. ở trên núi nhìn xuống có thể thấy lính Pháp đóng quân, đi lại đông đúc dọc đường 6. Khi ấy ông là cậu bé lên 9, lên 10 cùng theo cha mẹ lên núi. Gần 7- 8 năm sống trên núi, đến khi Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 được ký kết, chiến tranh chấm dứt, hòa bình lập lại bà con mới trở về nhà cũ.


Phụ nữ xã Gia Mô (Tân Lạc) gói bánh chưng chuẩn bị cho ngày Tết.

Tuổi thơ của những ngày tản cư nhiều khó khăn, thiếu thốn, đón Tết trong tâm trí lo chạy giặc ấy trở thành miền ký ức khó phai mờ trong ông. ông kể: Chuyển lên núi cuộc sống hoàn toàn tự cung, tự cấp. Bà con trồng lúa nương, ngô, sắn, bầu, bí, nuôi gà… làm thực phẩm. Để đi chợ phải ra tận chợ Cò mạn Đông Xuân, Tiến Xuân (trước thuộc huyện Lương Sơn - nay thuộc Hà Nội) nhưng không phải ai hoặc lúc nào cũng có thể đi được. Bữa cơm ngày thường chỉ là cơm độn khoai, sắn, ăn với rau, muối, nước mắm cũng không có, thịt thì càng không. Gia đình nào tăng gia được bí đỏ, bí xanh, nuôi được con gà đem ra chợ bán rồi lại mua các thứ thiết yếu khác.

Tết của thời kỳ đó thì không có gì đặc biệt, chỉ gọi là có 1, 2 ngày Tết. Để có gạo ăn Tết mỗi nhà phải có kế hoạch tiết kiệm từ trong năm. Ngày 29, 30 Tết, các gia đình chuẩn bị gạo gói bánh nhưng không phải chiếc bánh chưng vuông to đủ đầy nhân đỗ, thịt như bây giờ, vì gạo không có nhiều chỉ đủ để có thể gói một vài chiếc bánh ống nhỏ. Nhân bánh được làm bằng đỗ nương và không có thịt. Nhà nào không đủ gạo gói bánh chưng thì nấu đĩa xôi. Vì thiếu thốn nên mâm cơm cúng ngày Tết cũng đơn giản, chủ yếu có thịt gà, bánh chưng, rau bầu, bí, xôi. Ngày Tết, trẻ con cũng không được mua quần áo mới, không có bánh, kẹo nhưng trong tiềm thức ông, con trẻ vẫn mong đến Tết. Vì Tết không phải ăn cơm độn, có xôi, có thịt gà, dù chỉ là 1, 2 bữa. Cũng có năm ngày Tết, các gia đình đi chúc Tết nhau, trẻ con được mừng tuổi bằng những chiếc bánh con con chứ không có tiền để phong bao lì xì như thời nay. Những ngày Tết cũng là những ngày người dân càng phải cảnh giác hơn vì lo sợ giặc biết tập trung đông người sẽ bắn đạn pháo từ dưới đường 6 lên. Nếu có thông báo bà con cảnh giác, mỗi người, mỗi nhà đều trong tinh thần sẵn sàng buộc nồi, niêu vào sọt, khi có lệnh ngay lập tức quang gánh lên vai để chạy giặc.

Với bà Nguyễn Thị Nữ, phường Chăm Mát (TP Hòa Bình), Tết của thời bao cấp để lại nhiều kỷ niệm buồn, vui. Thời kỳ đó, các nhu yếu phẩm cần cho đời sống hàng ngày như gạo, thịt, đường, nước mắm, vải... đều được mua theo tem phiếu, sổ hộ khẩu tại các cửa hàng mậu dịch, bách hóa, cửa hàng kinh doanh tổng hợp. Từ ngày 24, 25 tháng chạp, các cửa hàng bắt đầu bán thực phẩm cho đến ngày 30 Tết. Thịt lợn được bán gộp 2 tháng cuối năm, nhà được 1 kg, nhà được 1,5 kg, nhà đông người được 2 - 3 kg thịt ăn Tết. Tháng Tết có thêm gạo nếp, mỗi khẩu được 5 lạng gạo, nhà ít khẩu chẳng đủ gạo gói bánh chưng. Hàng hóa mua theo tem phiếu nên rất ít ỏi, mỗi thứ một tí. Một năm, mỗi nhà được một phiếu vải tiêu chuẩn 4 m để may quần áo nhưng 2 năm mới bán một lần lấy 8 m vải. Với những nhà kinh tế khó khăn, Tết đến trẻ con cũng không được manh áo mới mà chỉ mặc quần áo cũ. Không có tiền nên có nhà phải vứt bỏ tem phiếu hoặc để cho người khác mua thay. Đáng nhớ nhất là cảnh xếp hàng mua thực phẩm ngày Tết. Để mua được hàng, nhiều người dậy từ rất sớm ra xếp hàng khi cửa hàng còn chưa mở cửa, có nhà vì nhiều lý do, bận không ra xếp hàng được hoặc muốn được mua trước nghĩ ra cách lấy viên gạch, hòn đá hoặc một vật dụng nào đó "thế chỗ” và nhờ người khác trông hộ. Khó khăn là vậy nhưng ai cũng háo hức chờ Tết.

Tiếp dòng chuyện Tết, ông Nguyễn Văn Miệu cười vui: Nói đến chuyện Tết ngày xưa thì khó khăn, thiếu thốn nhiều lắm. So với bây giờ đúng là khác hoàn toàn. Nhưng có lẽ cũng vì nghèo khó mà cái Tết được mong đợi hơn, con trẻ háo hức hơn chờ đón những ngày Tết đến, xuân về.


Hà Thu

Các tin khác


Thú chơi hoa, cây cảnh ngày xuân

(HBĐT) - Không biết từ bao giờ, cứ mỗi độ Tết đến, xuân về, trong mỗi gia đình không thể thiếu sắc màu rực rỡ của hoa, cây cảnh. Thú chơi hoa, cây cảnh ngày Tết đã trở thành nghệ thuật, một nét đẹp gắn với bản sắc văn hóa dân tộc. Trong sắc xuân rực rỡ, ý nghĩa của những bông hoa, nhành cây đem đến cho mỗi gia đình những gì tươi đẹp nhất của một năm mới.

Dấu ấn nền“Văn hóa Hòa Bình”

(HBĐT) - Văn hoá Hoà Bình là nền văn hoá tiền sử nổi tiếng ở Việt Nam và Đông Nam á. ở tỉnh ta, Văn hóa Hòa Bình phân bố dày đặc ở nhiều địa phương. Nền Văn hóa Hòa Bình tại tỉnh không chỉ là minh chứng khẳng định Hòa Bình là một trong những chiếc nôi của loài người mà còn cung cấp cho các nhà khảo cổ, nhà khoa học, nhà nhân chủng học... trong nước và quốc tế những cứ liệu khoa học vô cùng quan trọng.

Đầu năm đi lễ chùa

(HBĐT) - Phong tục đi chùa, xin lộc xuân là nét đẹp văn hóa của người á Đông. Tại Việt Nam cũng theo quy luật của tự nhiên "Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu liễm, Đông tàng” (mùa xuân thì sinh ra, mùa hạ thì trưởng thành, mùa thu thì thu liễm, mùa đông thì bế tàng). Vì vậy, phong tục đi chùa đầu xuân vừa là khởi đầu của một năm, khởi đầu của sự sống và trở thành yếu tố tâm linh gắn với văn hóa, tín ngưỡng lâu đời của người Việt.

Ngày Xuân nhớ thơ chúc Tết của Bác Hồ

(HBĐT) - Như đã thành lệ, mỗi dịp Tết đến, Xuân về, Bác Hồ đều có thơ gửi tặng đồng bào, chiến sĩ cả nước. Mỗi vần thơ của Bác như những lời khích lệ, động viên, cổ vũ toàn dân tộc cùng đoàn kết một lòng, vững bước tiến lên trong đấu tranh cách mạng và xây dựng quê hương, đất nước. Còn nhớ, bài thơ chúc Tết, mừng Xuân đầu tiên của Bác Chúc Tết Nhâm Ngọ - 1942 được Bác viết sau một năm về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, giữa lúc chiến tranh thế giới đang ở thời kỳ ác liệt, dân ta còn dưới ách áp bức bạo tàn của phát xít Nhật và thực dân Pháp, nhưng những lời thơ của Bác năm đó như một sự báo hiệu mùa xuân cách mạng đang tới:

Nhộn nhịp thị trường hoa, cây cảnh ngày Tết

(HBĐT) - Không quá lời nếu nói thiếu đào, quất hay hoa tươi dường như Tết chưa đến trọn vẹn. Cũng chính ví vậy chơi hoa, đi chợ hoa ngày Tết trở thành thú vui tao nhã không thể thiếu đối với mỗi hộ gia đình dịp tết đến, xuân về.

Dẻo thơm những chiếc bánh làm từ…hạt gạo

(HBĐT) - Từ những bông lúa, hạt gạo chắc mẩy, trắng trong được chọn lựa kỹ càng sau mỗi mùa thu hoạch, người người, nhà nhà dùng để tạo ra những loại bánh thơm ngon mang hương vị đậm đà và rất đỗi đặc biệt của làng quê. Và cứ thế, cứ vậy, những chiếc bánh dẻo thơm được làm từ hạt gạo trở thành thứ ẩm thực khó thể thiếu trong cuộc sống mỗi gia đình.