(HBĐT) - Những ngày tháng 8, tôi may mắn được tham gia đoàn công tác của Báo Hòa Bình vào các tỉnh phía Nam. Điểm đến đầu tiên của đoàn là huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Từ sân bay Tân Sơn Nhất, chỉ hơn 40 phút bay là chúng tôi đã tới Côn Đảo. Từ trên cao nhìn xuống thấy những hòn đảo nhấp nhô, trong đó, Côn Đảo là đảo lớn nhất nổi lên giữa biển xanh bao la, sóng vỗ dạt dào bên những bờ cát trắng xóa. Côn Đảo có hình dạng như một con gấu lớn quay lưng về đất liền, chân hướng ra biển Đông.


Cán bộ, phóng viên Báo Hòa Bình thăm quan, tìm hiểu tại di tích nhà tù Côn Đảo.

Theo hướng dẫn viên du lịch, trung tâm hành chính huyện Côn Ðảo có chiều dài khoảng 15 km, chiều ngang chỗ rộng nhất khoảng 9 km, chỗ hẹp nhất khoảng 1 km, với diện tích 51.520 km2, chiếm gần 2/3 tổng diện tích cả quần đảo. Ðây chính là khu vực nhà tù do thực dân Pháp xây dựng năm 1930, sau này Mỹ - Ngụy tiếp quản, xây dựng thành "địa ngục trần gian", nơi hơn nửa thế kỷ XX đã giam giữ, đầy ải, tra tấn những người con yêu nước của dân tộc Việt Nam. Từ trung tâm Côn Ðảo, những tuyến đường nhựa đưa du khách đến nghĩa trang Hàng Dương, đến trại biệt giam Chuồng Bò, cầu Ma Thiên Lãnh, lò vôi và các trại giam: Phú Thọ, Phú Hải, Phú Sơn, Phú Tường, Phú Phong, Phú An, Phú Bình, Phú Hưng... nơi mà sau 113 năm kể từ khi trại giam đầu tiên được thành lập đến năm 1975 đã có hơn 20 nghìn chiến sĩ cách mạng Việt Nam phải trải qua những ngày biệt giam ở nơi này. 1.922 phần mộ tại nghĩa trang Hàng Dương, con số đó khiến bất cứ ai cũng hiểu mỗi viên sỏi, hạt cát nơi đây đều thấm máu những người con ưu tú của dân tộc.

Trong chuyến đi này, chúng tôi đã được trực tiếp gặp ông Phan Hoàng Oanh, Chủ tịch Hội người tù kháng chiến tại nhà tù Côn Đảo. Ông Oanh bị địch bắt và đưa vào trại giam Phú Bình từ năm 1970 cho đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975). Ông là một trong 150 người tình nguyện ở lại Côn Đảo sau khi đất nước thống nhất và hiện chỉ còn 5 người còn sống.


Ông Phan Hoàng Oanh, Chủ tịch Hội người tù kháng chiến tại nhà tù Côn Đảo chuyện trò với phóng viên Báo Hòa Bình.

Ông Oanh bùi ngùi nhớ lại: Tôi sinh năm 1945 ở xã Đông Hưng, huyện An Biên, nay là huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Năm 1970, tôi công tác ở Huyện Đoàn An Biên, trên đường đi công tác cùng 2 đồng chí khác, chúng tôi bị lọt vào ổ phục kích của biệt kích ngụy. Địch bắn tôi bị thương, một đồng chí hy sinh và chúng tôi bị bắt. Để đảm bảo bí mật cho tổ chức, tôi khai báo là trốn quân dịch, bị xử mức án 10 năm tù và bị đày từ khám Chí Hòa ra Côn Đảo.

Nhà tù của chế độ Mỹ - Ngụy nổi tiếng tàn độc. Đa số tù nhân bị nhốt vào những phòng giam chật trội, bị xiềng chân, xích tay, dây treo. Chúng thường dùng dùi cui, roi vọt, máy điện để xét hỏi, tra tấn. Hơn thế, chúng còn dùng những thủ đoạn tra tấn dã man như rắc vôi bột, đổ nước bẩn xuống đầu tù nhân, bắt tù nhân "đi tàu bay", "đi tàu ngầm", tắm mưa, phơi nắng, chôn chân dưới phân bò ngập 30 - 40 cm suốt ngày đêm... Thương nhất là những nữ tù, có thời điểm hàng tháng trời không có nước tắm rửa. Ăn uống thì vô cùng kham khổ, mỗi bữa, mỗi người chỉ được lưng bát cơm gạo mốc và một thìa nước mắm hoặc một miếng cá khô mục nát. Nhưng chính ở "Địa ngục trần gian” khét tiếng này, các chiến sỹ cách mạng đã thể hiện ý chí đấu tranh kiên cường, bất khuất, giữ vững khí tiết của người cộng sản.

Dấu ấn sâu sắc nhất in đậm trong tâm khảm ông Oanh trong hơn 4 năm lưu đầy tại Côn Đảo là tình đoàn kết gắn bó, ý trí kiên cường, bất khuất của những chiến sỹ cách mạng. Dù bị đòn roi, tra tấn, lao động khổ sai nhưng họ cương quyết không hát quốc ca, không chào cờ của chế độ Việt Nam cộng hòa, không suy tôn Tổng thống và không có ai chịu sự thúc ép của địch mà xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc biệt, những người tù cộng sản có sức hút mạnh mẽ đối với tù thường phạm, họ đã cảm hóa những tướng cướp lừng danh, những kẻ máu lạnh từng gây ra các vụ án "động trời” để cùng đoàn kết chống lại âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, khiến bọn cai ngục buộc phải tách riêng tù chính trị và tù thường phạm hòng giảm bớt áp lực trong quá trình cai quản.

Trước ngày 30/4/1975, ở Côn Ðảo không có dân thường. Trên đảo chỉ có bọn cảnh sát ác ôn, binh lính và vợ con của chúng. Ông Oanh nhớ lại: Ngày 4/5/1975, khi binh lính địch thông báo chế độ ngụy quyền Sài Gòn đã bị lật đổ, do cảnh giác trước âm mưu đàn áp, thủ tiêu của địch, chúng tôi không tin. Khi chúng lấy radio cho chúng tôi nghe chương trình của Đài phát thanh Giải phóng, ai nấy đều sung sướng tột cùng, tất cả cùng có chung cảm giác nhưng mình được sinh ra một lần nữa. Do xa đất liền, nên tù chính trị chúng tôi, chính là những người tiếp quản, bảo vệ và giữ gìn ANTT trên đảo trong những ngày đầu giải phóng.

Trong những năm gắn bó với Côn Đảo, ông Phan Hoàng Oanh đã từng là Bí thư Huyện Đoàn, Giám đốc Lâm trường, Trưởng BQL di tích Côn Đảo và hiện là Chủ tịch Hội người tù kháng chiến tại nhà tù Côn Đảo. Ông Oanh chia sẻ: Từ khi đất nước hòa bình, thống nhất, 44 năm đã trôi qua, Côn Ðảo hôm nay, có thể thấy một cuộc sống mới đã rõ hình hài và đang trên đường phát triển. Sau mấy chục năm, khu trung tâm Côn Ðảo đã trở thành khu dân cư đông đúc, nhà dân hầu hết là các nhà hàng và dịch vụ, nhiều nhà xây cao hai, ba tầng. Chợ Côn Ðảo có đủ các mặt hàng điện tử, may mặc, đồ gia dụng, ăn uống, giải khát, thực phẩm tươi sống. Tôi và bà con ở đây tràn đầy hy vọng đất nước sẽ có bước phát triển mới, mạnh mẽ hơn.

Chia tay ông Oanh, tạm xa Côn Ðảo giữa ngày nắng đẹp, trời xanh, biển biếc. Từ trên máy bay nhìn xuống, tôi có cảm giác như Côn Ðảo đang cất cánh bay lên trong bình minh của cuộc sống mới.

Đức Phượng


Các tin khác


Núp bóng dự án để khai thác vàng trái phép ở xã Mỵ Hòa

Bài 1 - Dự án bất thường nơi "rốn” vàng

(HBĐT) - Lợi dụng việc triển khai thực hiện dự án nạo vét, cải tạo hồ thủy lợi Gốc Thị tại xóm Đồng Hòa II, xã Mỵ Hòa (Kim Bôi), các đối tượng núp dưới danh nghĩa đơn vị thi công đã đưa máy móc, thiết bị vào để khai thác vàng trái phép trong một thời gian dài.

Đổi thay của những tộc người đặc biệt vùng Tây Bắc

Nhờ triển khai thực hiện Đề án 1672 lồng ghép với các chương trình khác của Chính phủ, đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc Mảng, La Hủ, Cống và Cơ Lao đã có nhiều khởi sắc. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện vẫn còn nhiều bất cập, khiến một số mục tiêu đề ra đạt thấp.

Đổi thay của những tộc người đặc biệt vùng Tây Bắc

Trước nguy cơ tụt hậu của đồng bào bốn dân tộc Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao, cùng với hàng loạt chính sách đầu tư cho đồng bào vùng cao, tháng 9-2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1672/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Phát triển kinh tế - xã hội vùng các dân tộc Mảng, La Hủ, Cống, Cơ Lao” (gọi tắt là Đề án 1672). Qua gần 10 năm thực hiện, Đề án đã hỗ trợ và tạo điều kiện cho đồng bào phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.

Đổi thay của những tộc người đặc biệt vùng Tây Bắc

Dân tộc Mảng, La Hủ, Cống, Cơ Lao là các dân tộc thiểu số rất ít người, đặc biệt khó khăn của vùng Tây Bắc; sinh sống tập trung tại các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Hà Giang. Trong những năm qua, từ sự đầu tư của Nhà nước, nhất là từ Đề án "Phát triển kinh tế - xã hội vùng các dân tộc: Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao”; đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào bốn dân tộc này có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn có những khó khăn tồn tại, nhiều chính sách của Nhà nước khi đầu tư cho bà con còn bất cập, cần phải xem xét, điều chỉnh cho phù hợp với thực tế.

Giữ mầu xanh Trường Sa

Quá nửa năm, quần đảo Trường Sa chưa được đón trận mưa đầu mùa, không khí nóng nực, bức bối đến khó thở. Đối với lính đảo, nước ngọt là thứ rất quý giá. Thế nhưng, đặt chân lên bất cứ đảo nổi nào, chúng tôi đều thấy cây cối xanh ngắt một mầu, từ cầu tàu cho đến cuối đảo. Trên đảo Sơn Ca, hai cây quất nhận từ huyện Văn Giang (Hưng Yên) gần Tết năm trước nay còn đơm hoa, đậu quả trái mùa.

Chuyến tàu nặng tình cá nước - Bài 2: Những người mẹ của chiến sĩ Trường Sa

Trên con tàu quân y 561 xuất phát từ cảng Cam Ranh vào một ngày Hè 2019, trong số hơn 100 thân nhân các chiến sỹ Trường Sa có mười người là mẹ bộ đội. Đây là con số ấn tượng, bởi do điều kiện đặc thù của hành trình ra quần đảo Trường Sa - thời gian dài, sóng, gió và nắng, không phù hợp với những người phụ nữ lớn tuổi.

Xem các tin đã đưa ngày:
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục