(HBĐT) - Sau mấy sự kiện liên quan đến đời sống của cả gia đình tôi như mẹ học xong thạc sĩ chuyên ngành, công việc của bố ít cơ động hơn và nhà tôi đã xây xong ngôi nhà mới phía Tây thành phố, dịp này cả nhà được về quê nội chơi. Một công đôi việc, cũng lần này, cả nhà sẽ cố mời để ông ra thành phố sống cùng gia đình tôi. Mẹ tôi thì bảo: "Cả đời sống cặm cụi nơi rừng núi, về già cần an nhàn cùng con cháu. Nếu về dưới này dễ chăm sóc ông hơn”. Bố tôi trầm ngâm: "Từ hồi bà nội mất, ông cũng chếnh choáng… Dù ở cùng chú Hai nhưng bố là con cả, bố muốn được ở cùng ông”…


Khỏi phải nói 2 chị em tôi vui đến cỡ nào. Hồi còn nhỏ, chúng tôi cũng hay được về và được nghe bao chuyện về rừng, về núi: Nhà mình ở khá gần khu bảo tồn thiên nhiên nên đôi khi được thấy cả đàn khỉ xuống vườn ngô nhà dân, có lúc còn cả ông Ba mươi lững thững uống nước con suối cạnh nhà; có lần cả làng bắt hụt chú sơn dương lạc xuống đầm lầy phía cuối con suối dài và sâu… Đấy là các chú kể thế, không biết có hư cấu gì không? Nhưng qua câu chuyện đó cùng những tưởng tượng thời niên thiếu, tôi mơ tưởng tới những cánh rừng đại ngàn, có những cây cổ thủ 10 người ôm không xuể; nai, hoẵng, thỏ đi từng đàn và những đàn bướm khổng lồ bay rợp trời… Thiên nhiên đẹp và hùng vĩ như vậy cơ mà, tuy tưởng tượng nhưng sao vẫn thích thú vô cùng. Dù thế, tôi vẫn ám ảnh lần được chứng kiến mưa rừng và lũ suối. Con suối trước nhà ông khi chưa mưa nước trong vắt, hiền hòa chảy, nhưng chỉ cần có cơn mưa thượng nguồn, con suối đã trở nên hung dữ, đỏ ngầu gầm gào cuốn phăng những khúc gỗ rừng về suối…
Thấy cả nhà về ông vui lắm. Treo bao dao lên cột hiên ông mặc vội chiếc áo màu gụ, nhưng không giấu nổi làn da màu đồng đỏ au xen lẫn những vết sẹo đã chai sạn loáng thoáng ở vai, lưng. Ông gọi ngay chú Hai về. Nghe loáng thoáng nhắc đến: gà đồi, măng chua, hạt dổi và tên một số ông có tuổi trong xóm. "Con mời các ông đến uống rượu gọi là chào mừng cả nhà con cả về chơi”. Ông cười hào sảng, xoa bàn tay đậm mùi gỗ rừng lên vai tôi: "Ông đang làm chiếc lồng chim sáo cho 2 cháu. Dùi đục xong rồi, chỉ lắp nan nữa là xong. Không biết cu Tít có thích không”. Nghe ông cười, ông nói, không ai nghĩ ông đã ngoài 70, ngoài mái tóc dài, trắng như cước kiểu nghệ sĩ… Nhìn các vật dụng ông tự làm mà thích mê. Mấy cây nỏ, mấy vỏ dao được chạm trổ tinh vi, dàn sáo trúc óng vàng làm từ trúc rừng; bó tên được vót cẩn thận… Dàn lồng chim… Chim sáo, yểng, họa mi… líu lo cả góc vườn. Bước ra khu vườn rừng của ông lại thấy thêm cả bao điều kỳ thú: Sao gà lại sống, ngủ rải rác trên những lùm cây, khi có người chạy tản ra xao xác cả góc rừng; dưới gốc cây lác đác những quả trứng hồng… Nhưng chỉ cần thấy thím Hai bê rá thóc, ngô ra, chúng từ đâu tụ về ngợp chân. Tiếng gọi cúc… cúc... xen lẫn âm thanh đàn gà chí chóe như khiến khu rừng bừng tỉnh. Hai chị em tôi đi nhặt những quả trứng còn nóng dưới mỗi gốc cây mà thích. Hồi nhỏ, 2 chị em mình xơi trứng gà của ông hơi nhiều đấy. Tôi nói thầm vào tai cậu em... Hồi đó, dù xe cộ không thuận như bây giờ nhưng thỉnh thoảng lại được nhận trứng, rau, chuối chín của ông bà. 
 Bố tôi từng kể rằng: "Hồi bố đang đi học đại học, mỗi khi có thư của các con gửi về, y như rằng vãn cả đàn gà của ông. Lắm lúc cầm đồng tiền ông bà cho, cứ thấy áy náy lắm con à. Ông bà vất vả mà chẳng kêu ca gì. Để có khu vườn rừng đó, ông bà dành trọn 10 năm gây dựng...”. Dù bố không nói hết nhưng chúng tôi cũng lờ mờ hiểu được khó khăn thời đó. Cả 4 anh em đều đi học chuyên nghiệp ở Hà Nội và Hải Phòng, chả ông bà lo thì ai lo... Nhưng cũng lạ là chưa bao giờ thấy ông đòi hỏi hay kể khổ cùng con cháu. Nhớ có lần bố thuê xe về tận nhà đón ông xuống Hà Nội chơi. Hôm trước xuống, hôm sau đòi về luôn mặc cả nhà nài nỉ ở thêm vài ngày nữa. Mà đêm đó ông cũng trằn trọc khó ngủ. Ông bảo: "Nhà có bà, có chú thím Hai... ông chẳng lo gì cả. Nhưng lạ giường, lạ chiếu. Mà ở đây vẫn có người đi lại cả đêm nhỉ, xe cộ cũng chẳng ngưng... Vì thức nên chỉ thấy nhớ rừng thôi, vườn lát mới trồng không ai chăm sóc, đàn lợn nái hình như nay nhảy ổ rồi”. Bố giả vờ dỗi nhưng không lay chuyển nổi ông, dù đã lên kế hoạch thăm thú vài nơi. Đưa ông phong bì tiền, ông ngạc nhiên: Về đó có tiêu cái gì đâu. Nói mãi ông cầm khỏi các con buồn. Màu áo bay Liên Xô ông mặc cứ chập chờn đi vào giấc ngủ của chúng tôi sau ngày ông ngược núi...
Gọi là chân rừng bóng núi nhưng nhà ông còn cách xa cửa rừng mấy tiếng đi đường chứ ít đâu. Nhưng ông từng là con người của núi rừng nên sau những phiêu dạt, ông bà quyết định lập nghiệp ở đây. Bố tôi được sinh ra ở chính ngôi nhà bên đồi này, ngày đó, cây trong vườn còn thưa thớt, mới lớn thôi, cây còn lẫn cỏ tranh, cây sim, cây mua… chứ đâu đã cao lớn và thành hàng, thành lối bạt ngàn như bây giờ. Ông chia sẻ: Ngày trước miếng ăn hàng ngày là từ rừng. Nhưng ông nghiệm ra câu "ăn của rừng rưng rưng nước mắt…” nên thôi, ra đây lập nghiệp, trồng cây, gây rừng, nuôi gà lợn… Chuyện về ông thì nói mãi chẳng hết đâu. 
Câu chuyện khó nói rồi cũng được bố mẹ tôi nói ra. Tôi ôm vai ông thủ thỉ: "Ông ra ở cùng gia đình cháu ông nhé. Nhà cháu giờ rộng rãi lắm, mỗi người một phòng...”. Vợ chồng chú thím Hai thì tư lự vì có phần bất ngờ với đề xuất đó. Chú Hai, người có gương mặt là bản sao của ông nội băn khoăn: "Mấy chục năm chúng em ở cùng ông bà rồi. Giờ thay đổi chắc gia đình chúng em khó quen lắm”... Hôm nay, ông uống nhiều hơn mọi bận. Khuôn mặt vuông vức ửng đỏ nhưng lời ông lại khá rành rẽ: "Thôi... Bố cám ơn các con... Bố đã quen nhịp sống, hơi thở ở đây rồi. Bố đã thuộc về nơi này rồi. Vả lại, bố còn bạn già bao năm gắn bó... Rồi phần mộ mẹ các con. Yên trí đi, năm nào bố cũng về thành phố chơi, thăm con cháu”. Khuôn mặt chú thím ánh lên tia vui mừng, còn bố mẹ tôi lại thoáng chút bâng khuâng. Ông nói thế thì chẳng có lý gì để bắt ông thay đổi được. Ở với rừng, với suối, với núi đồi trên 40 năm, giờ về thành phố náo nhiệt, ồn ào, ông sao thích nghi nổi. Nơi đây, ông tôi có một thời tuổi trẻ vất vả, gian khó nhưng tâm huyết. Nơi bố và cô chú tôi sinh ra, cất tiếng khóc dưới những tán rừng. Sao có thể dễ bỏ đi. Chỉ có điều gia đình tôi phải làm điều ngược lại, năm nào cũng phải trở về đây. Nhất định thế!

Truyện ngắn của Bùi Huy

Các tin khác


Hè về bâng khuâng lũy tre làng

(HBĐT) - Làng tôi nằm ven sông, con sông đã đi vào ký ức tuổi thơ của thời trẻ thơ. Lũ chúng tôi thời đó có người đã hy sinh ở chiến trường Quảng Trị, người còn lại cũng ngoài 80. Phía bờ sông là lũy tre làng xào xạc khi gió lào thổi về.

Những người mẹ...

(HBĐT) - Vẫn nhớ lần đầu khi đến các Nghĩa trang liệt sỹ Quốc gia: A1 (Điện Biên), Trường Sơn, Đường 9 (Quảng Trị), Nghĩa trang liệt sỹ Vị Xuyên (Hà Giang), hay đọc các trang viết về những lần đi bốc mộ đồng đội ở Nghĩa trang Đức Cơ (Gia Lai) qua trang ký của nhà văn Đoàn Tuấn…

Cha và con

(HBĐT) - Một hôm, vợ chồng thằng cả có lời: - Xoan trên đồi đã cao lắm rồi bố ạ…Tôi biết như thế là nó muốn làm nhà, ra ở riêng. Người xem ngày giờ cho tôi động thổ là lúc tỉnh táo, tuy lúc lẩn thẩn nhớ nhớ, quên quên. Vốn là người chẳng tin vào tâm linh, tôi biến ông thành thứ mặt nạ che mắt gia đình.

Hè về lại nhớ mo cau

(HBĐT) - Bà nội từ vườn bước vào, trên tay lỉnh kỉnh mấy cái tàu cau vẫn còn tươi. Bố phụ bà lọc bỏ phần cuống và lá, còn lại phần thân rồi mang ra nắng phơi cho khô. Lúc thấy bà cầm tàu cau đi vào sân trong đầu tôi đã hiện lên hình ảnh những chiếc quạt mo cau xinh xắn, dễ thương vào mỗi dịp hè, mất điện bà vẫn thường hay lấy ra phe phẩy tạo làn gió mát.

Tình xưa

(HBĐT) - Đêm ở biển hóa ra còn lặng lẽ hơn ở làng quê. Lâu lắm tôi đã không còn hứng thú viết về tình yêu, cũng chẳng khoái viết về biển, sóng cứ ì oạp thì mặc sóng, tôi lết đôi dép tổ ong, tay đút túi quần bước đi, chưa bao giờ thấy cuộc đời nhàn nhã và thư thái đến thế.

Xem các tin đã đưa ngày:
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục