(HBĐT) - Chẳng biết đó là may mắn hay là một cơ duyên, khi đến thăm "Bến tàu không số” - Bến K 15 hay còn gọi là Bến Nghiêng dưới chân ngọn đồi Nghinh Phong thuộc phường Vạn Hoa, quận Đồ Sơn (Hải Phòng), chúng tôi đã được gặp, trò chuyện và được nghe những nhân chứng sống kể lại những ký ức hào hùng, câu chuyện huyền thoại về tuyến đường vận tải quân sự có một không hai trong lịch sử chiến tranh thế giới: Đường Hồ Chí Minh trên biển....


Bến K15 - Bến tàu "không số" còn lại như một chứng tích thời kỳ chiến tranh gian khổ, ác liệt.

Khai thông đường Hồ Chí Minh trên biển

"Trong lịch sử chiến tranh thế giới từ cổ chí kim, con đường Hồ Chí Minh trên biển là con đường duy nhất, có một không hai mà chỉ có chỉ đạo chiến tranh ở Việt Nam mới làm được điều đó”, bằng chất giọng sang sảng, chắc nịch của người miền biển, ông Tô Hải Nam, nguyên Đại tá, Tổng Biên tập Báo Hải quân, nguyên chiến sỹ đoàn tàu "không số” đã mở đầu câu chuyện về tuyến đường huyền thoại và những con tàu "không số” mà cách đây gần 40 năm ông và những đồng chí, đồng đội trực tiếp tham gia. Lịch sử của con đường huyền thoại ấy đã trở thành một thiên anh hùng ca bất tử của dân tộc Việt Nam: "Đường Hồ Chí Minh trên biển cùng với những con tàu không số là kỳ tích huyền thoại, thiên anh hùng ca bất hủ, mốc son chói lọi, biểu tượng ngời sáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, trí tuệ, sự hy sinh, lòng dũng cảm, ý chí độc lập dân tộc và thống nhất đất nước của toàn thể nhân dân Việt Nam”. (Lời ghi trên Đài tưởng niệm ở Km số 0 bến K15 - tàu "không số”).

Tại km số 0 dưới chân đồi Nghinh Phong - Bến K15 hay người dân vẫn gọi là Bến Nghiêng vào ngày 10/4/1962, chiếc tàu trinh sát đầu tiên rời bến, sau 4 ngày đêm vượt qua muôn vàn sóng gió và khó khăn, đến ngày 14/4/1962, tàu đã tới được Cà Mau. Sau chuyến đi thành công này, tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển đã chính thức được khai thông ngay trước tai mắt của địch. Để đêm ngày 11/10/1962, chiếc tàu vỏ gỗ "không số” đầu tiên chở 30 tấn vũ khí của đồng bào miền Bắc chi viện cho đồng bào miền Nam đánh Mỹ rời cảng. Giữa rừng cây thâm u ngút ngàn, các đồng chí: Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng, Trần Văn Trà cùng nhiều đồng chí khác đến tận đây giao nhiệm vụ và tiễn tàu đi làm nhiệm vụ. Sau 6 ngày đêm vượt muôn nghìn sóng gió trùng khơi của biển Đông và sự canh gác của kẻ thù ở biển phía Nam, ngày 16/10/1962, tàu đã cập vào bến Vàm Lũng (Cà Mau) an toàn và 30 tấn vũ khí đầu tiên của đồng bào miền Bắc chi viện cho đồng bào miền Nam đánh Mỹ đã tới được nơi mà con đường bộ chưa tới được. Sau chuyến đi thành công đó, tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển đã chính thức được khai mở nối hai miền Bắc. Ông Nguyễn Bá Cương ở xã Phù Vân, TP Phủ Lý) người mà chúng tôi may mắn được gặp và trò chuyện ngay dưới chân đài tưởng niệm tại Đồ Sơn nguyên là chiến sỹ trên con tàu "không số” có bí số "C121” chia sẻ: Bến K15 tại Đồ Sơn chính là km đầu tiên của tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển và là một trong những đầu mối vận chuyển trên biển mang tính chiến lược. Chính tại nơi này đã có gần 100 chuyến tàu nữa lần lượt rời bến K15 chở người và hàng vạn tấn hàng hóa, đạn dược, vũ khí cho đồng bào miền Nam đánh giặc. Cũng chính tại nơi đây, đúng giờ G ngày 20/9/1970, con tàu không số "C121” của chúng tôi với 7 cán bộ chiến sỹ trong tổ công tác đặc biệt được cải trang là tàu đánh cá nhổ neo xuất phát, vượt trùng khơi ra biển Đông nhằm hướng Nam thẳng tiến. Trên mặt boong tàu phủ kín ngụy trang bằng lưới đánh bắt cá, xung quanh tàu đã áp sẵn súng máy, thuốc nổ, phòng khi bị địch phát hiện, bao vây thì tự kích nổ hủy tàu. Trên hành trình hơn 7 ngày, 7 đêm trên biển, con tàu không số ấy mang trong mình hơn 30 tấn vũ khí, khí tài cập bến Cồn Lợi xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú (Bến Tre) an toàn. Trên suốt hành trình ấy, không ngày nào là không có máy bay địch theo đuổi chụp ảnh, rồi tàu chiến địch bám đuổi theo dõi. Nhưng với quyết tâm bằng mọi giá đem được vũ khí vào chiến trường miền Nam phục vụ cuộc kháng chiến, thủy thủ tàu đã khôn khéo đánh lạc hướng quân địch và chuyến tàu đã cập bến an toàn. Theo thống kê, tính từ khi thành lập Đoàn vận tải biển 759 (tiền thân của Lữ đoàn 125 Hải quân) ngày 23/10/1961 cho đến ngày 30/4/1975, khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử, đoàn tàu "không số” đã chở được trên 15 vạn tấn vũ khí, hàng vạn tấn hàng hóa, 8 vạn lượt người và rất nhiều vàng bạc, đôla... Các đồng chí Lê Đức Anh, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Võ Văn Kiệt đều qua lại từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc trên những chuyến tàu "không số” để chỉ đạo cuộc đấu tranh cách mạng thống nhất nước nhà...

Huyền thoại một con đường

Dấu tích của bến cảng K15 hiện chỉ còn lại những cột bê tông hiên ngang đón gió nơi cửa biển như những nốt nhạc của bài ca chiến thắng. Năm 1972 mới bắt đầu tham gia phục vụ đoàn tàu không số tại bến K15, dù đã 50 năm trôi qua nhưng ký ức về những ngày tháng tham gia phục vụ đoàn tàu "không số”, ký ức về một niềm tin chiến thắng vẫn như vẹn nguyên trong ký ức của những người lính năm xưa. "Trong cuộc đời, chúng tôi có một may mắn là được tham gia phục vụ những con tàu "không số” trên tuyến đường huyền thoại - đường Hồ Chí Minh trên biển” - ông Hoàng Văn Thiềng, nguyên là chiến sỹ đoàn tàu "không số” nhà ở quận Đồ Sơn cởi mở.

Bến cảng K15 là một trong những bến cảng cụ thể hóa thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng. Do vậy, tại đây, những người lính như ông Tô Hải Nam, Hoàng Văn Thiềng, Nguyễn Bá Cương và hàng nghìn, hàng vạn người lính, đồng đội của họ cũng đã trở thành một phần của lịch sử và cũng chính họ là người làm nên lịch sử, viết nên câu chuyện về một con đường huyền thoại, con đường vận tải biển mà chỉ duy nhất có ở Việt Nam. "Chỉ mất có 6 ngày, hàng chục, hàng trăm tấn vũ khí từ bến K15 đã được đưa đến tay đồng bào, chiến sỹ ở những nơi rừng biếc, đầm lầy, những nơi xa xôi chưa có đường bộ. Thế mới thấy được vai trò và ý nghĩa của con đường vận tải biển” - ông Nguyễn Bá Cương nhấn mạnh. Như để minh chứng rõ hơn, ông Tô Hải Nam so sánh: Bản thân tôi cũng đã từng hành quân bộ ở đường Trường Sơn. Chúng tôi đeo 2 viên đạn B40 vào được đến chiến trường Quảng Trị mất 3 tháng, vào chiến trường Quân khu 5 mất 4 tháng và vào chiến trường Lộc Ninh (Tây Ninh) mất 6 tháng. Nhưng trên con đường đó đã phải ăn mất bao nhiêu balô gạo, bao nhiêu trạm giao liên phục vụ, phải hứng bao nhiêu trận bom đạn của kẻ thù mới mang được 2 viên đạn vào đến chiến trường. Thế nhưng ở đây, trên tuyến đường biển chỉ mất có 6 ngày đêm. Nếu như kẻ thù không phát hiện, 1 chuyến đi trót lọt, một lượng vũ khí rất lớn đã được đưa tới miền Nam. Có thể thấy, uy lực của con đường biển là rất lớn.

Với vai trò, vị trí chiến lược quan trọng trong cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước nhưng tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển luôn vô hình trước sự sục sạo của kẻ thù. Năm 1972, khi giặc Mỹ cho máy bay leo thang ném bom miền Bắc, chúng còn đưa cả máy bay B52 "rải thảm” bom đạn. Trong đó, Hải Phòng là một trong những trọng điểm bắn phá, là "túi bom” của địch. Nhưng từ bến K15, những chuyến tàu không số vẫn lặng lẽ rời bến chở vũ khí vào Nam, con đường vẫn được giữ bí mật, bến cảng K15 cũng được giữ bí mật. Hàng nghìn con người cùng một niềm tin, ý chí giữ bí mật con đường. Kể cả khi đã lên tàu, không ai biết về con đường, nhiệm vụ của mình. "Ngay trên con tàu chỉ có thuyền trưởng và chính trị viên biết nhiệm vụ của tàu còn từ các ngành trưởng và chiến sỹ không một ai biết nhiệm vụ của con tàu đi đâu và làm gì, thậm chí họ cũng không biết hàng hóa trên tàu là gì. Chỉ biết cứ nhấc lên, xếp lên tàu. Xong. Hành trình là đi có thế thôi” - ông Nguyễn Bá Cương chia sẻ. Tranh thủ thời gian giặc Mỹ ngừng đánh phá, những chiến sỹ đoàn tàu "không số” tranh thủ từng giờ, từng phút để bốc, chuyển hàng hóa. Những chuyến tàu cũng liên tục xuất bến chạy đua cùng thời gian, chạy đua với từng trận đánh. Càng sóng to, gió lớn, mưa bão thì ta lại càng đi nhiều. Ngoài sóng gió, những cơn bão biển lúc nào cũng như muốn nuốt chửng những con tàu nhỏ bé, những con tàu "không số” còn luôn phải đối mặt với cả Hạm đội 7 hùng mạnh bậc nhất của địch luôn rình rập ở biển Đông. Nhưng bằng niềm tin chiến thắng, những con tàu "không số” đã luôn hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.

Cùng với con đường Hồ Chí Minh trên dãy Trường Sơn, đường Hồ Chí Minh trên biển đã trở thành những huyền thoại trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, thể hiện ý chí, khát vọng độc lập, tự do, thống nhất đất nước của dân tộc ta. Đó cũng là con đường của niềm tin chiến thắng. Đó là một ký ức tự hào của những người viết nên câu chuyện huyền thoại về con đường Hồ Chí Minh trên biển năm xưa. Và cả của những người đang từng ngày đến thăm lại bến K15 hôm nay. 


Mạnh Hùng

Các tin khác


Nét đẹp nơi miền đất cổ

(HBĐT) - Vùng đất Cao Sơn (trước là xã Cao Răm) huyện Lương Sơn có 4 di tích quốc gia gồm: hang Chổ, hang Núi Sáng, động Mãn Nguyện, hang Khụ Thượng… Nơi đây không chỉ chứa đựng nhiều dấu tích của người xưa mà còn giữ nét văn hóa cộng đồng bao đời nay.

Tôn vinh nghệ nhân xứ Mường: Bài 3: Giữ gìn, phát huy những báu vật của cha ông

(HBĐT) - Xứ Mường Hòa Bình luôn tự hào là cái nôi của nền văn hóa Hòa Bình, nơi sở hữu kho tàng di sản văn hoá (DSVH) đồ sộ với những "báu vật” vô giá mà cha ông để lại như mo Mường, chiêng Mường, các lễ hội, loại hình chữ viết, nhạc cụ dân tộc… Đặc biệt đáng quý, nơi đây có những con người yêu tha thiết văn hóa dân tộc, để rồi cùng nhau quyết tâm thực hiện một hành trình vô cùng tâm huyết và ý nghĩa: Gìn giữ, phát huy những "báu vật” của cha ông.

Tôn vinh nghệ nhân xứ Mường: Bài 2: Đưa chữ viết, dân ca phổ biến trong cuộc sống đương đại

(HBĐT) - Nếu tiếng nói, chữ viết là công cụ tư duy, phương tiện giao tiếp để thể hiện, lưu giữ, truyền bá tri thức thì dân ca, dân vũ truyền thống là nét sinh hoạt văn hoá, món ăn tinh thần gắn chặt với đời sống của người dân xứ Mường. Việc truyền dạy chữ viết là cấp thiết nhằm bảo tồn bản sắc văn hóa, thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Với dân ca, dân vũ là để lưu giữ cái hay, cái đẹp, đưa các làn điệu dân ca, dân vũ phổ biến, hoà quyện vào "hơi thở” nhịp sống đương đại.  

Tôn vinh nghệ nhân xứ Mường: Bài 1 - Động lực cho những báu vật nhân văn sống

(HBĐT) - Trải qua bao thăng trầm lịch sử, giá trị di sản văn hoá (DSVH) các dân tộc tỉnh Hòa Bình không bị mất đi mà được bảo tồn, phát huy tạo nên bức tranh đa màu sắc. Công lao trên trước hết thuộc về những nghệ nhân có vai trò nắm giữ, trao truyền. Họ - những "báu vật nhân văn sống" đang thực hiện sứ mệnh lưu truyền tinh hoa văn hoá truyền thống trong dòng chảy văn hóa Việt.

Tiếp thêm sức mạnh cho di sản văn hoá Mo Mường: Bài 3 - Nâng tầm vóc, vị thế của Mo Mường trong cuộc sống hôm nay

(HBĐT) - Trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế, di sản văn hóa (DSVH) Mo Mường đang phải đối mặt với tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường, của quá trình đô thị hóa và làn sóng văn hóa ngoại lai. Để Mo Mường được sống mãi cùng thời gian, cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong tỉnh đã, đang chung tay thực hiện giải pháp trước mắt và dài hạn để ghi danh Mo Mường vào danh sách DSVH phi vật thể thế giới. 

Tiếp thêm sức mạnh cho di sản văn hóa Mo Mường: Bài 2- Bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hoá Mo Mường

(HBĐT) - Đặc sắc và giàu tính nhân văn, Mo Mường là nghi lễ dân gian có tính thiêng, không chỉ dùng khi tiễn biệt người đã khuất về thế giới bên kia mà được sử dụng rộng rãi dịp thanh minh, mát nhà, làm vía…, gắn liền với đời sống tinh thần của người dân xứ Mường. Năm 2016, cùng với nghệ thuật Chiêng Mường, Mo Mường Hoà Bình được công nhận di sản văn hoá (DSVH) phi vật thể cấp quốc gia. Việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị tốt đẹp của Mo Mường vừa là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị, vừa là trách nhiệm của mỗi cá nhân, cộng đồng để sớm đưa Mo Mường ghi danh DSVH phi vật thể của thế giới.

Xem các tin đã đưa ngày:
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục