(HBĐT) - Một mùa Trung thu nữa lại về. Bước ra phố trong đêm, tôi choáng ngợp vì ánh sáng lung linh của những chiếc đèn lồng. Hai bên vỉa hè, người người bày biện gian hàng bánh Trung thu nhan nhản. Trẻ con thành thị tụm năm, tụm bảy xách đèn lồng điện tử nói cười nhốn nháo. Không khí Trung thu cũng như thuở nào nhưng sao nó nhạt nhẽo, hững hờ quá đỗi!

Tết Trung thu ngày xưa không như bây giờ. Những chiếc đèn lồng điện tử chẳng thể nào có trong quá khứ. Hồi ấy, trẻ con chỉ chơi đèn lồng do chính tay mình làm lấy. Đứa giàu nhất xóm cũng chỉ mua đèn lồng thủ công ngoài chợ. Ngày ấy cứ mỗi lần sắp đến ngày Trung thu là trẻ con trong xóm nhốn nháo. Sau những buổi tan học, đứa nào cũng đi tìm thanh tre khô đem về nhà chuốt mỏng. Bước kế tiếp là đi mua keo dán, dây thun, giấy kiến và một số phụ kiện cần thiết khác. Nói thì dễ nhưng tiền luôn là vấn đề nan giải. Những đứa con nhà khá giả thì tiền với chúng chỉ là chuyện nhỏ. Nhưng đối với những đứa trẻ có hoàn cảnh khó khăn như tôi thì lại là chuyện to lớn vô cùng. Vì vậy, tôi thường phải để dành tiền quà cả tháng để đầu tư vào món đồ chơi cho đêm Trung thu.

Trẻ con xóm tôi đứa nào cũng có thể làm đèn lồng. Ngay từ nhỏ, chúng đã quen với món đồ chơi dân dã này nên học từ đàn anh và rồi tự làm lấy. Đèn lồng có muôn hình vạn trạng nhưng chúng tôi chỉ làm đèn ông sao. Nó khá đơn giản nên đứa nào cũng có thể làm được. Chỉ có những đứa khéo tay mới nghĩ đến việc làm đèn hình cá chép, búp sen, bươm bướm… Những chiếc đèn lồng cầu kỳ như thế đòi hỏi phải mất cả tháng mới hoàn thành. Nhiều khi làm một mình nản, chúng nghĩ đến việc hợp tác để làm một chiếc lồng đèn cá mập to, hoành tráng. Những thằng lười biếng thì chỉ nhặt một vỏ lon bia đem về, dùng mũi dao nhọn rọc sóng dọc theo chiều thẳng đứng, sau đó ấn nhẹ xuống cho có độ cong là có ngay chiếc đèn lồng trái châu xinh xắn. Nó tiện lợi hơn bất cứ chiếc đèn lồng nào khác vì do bằng nhôm nên không bị cháy rụi. Dù vậy nó vẫn bị gán hai chữ "lười biếng” cho "ông tướng” nào xách đèn lồng đó.

Chúng tôi chơi Trung thu trước ngày rằm tháng tám ít bữa. Đêm đến, bọn trẻ cả xóm nhộn nhịp như hội chợ tết. Dưới ánh trăng chiếu sáng, từng tốp cầm lồng đèn dạo quanh khắp xóm, hát ca, nô đùa. Đây cũng là dịp để trẻ con chúng tôi so sánh tài khéo tay với nhau. Nếu làm đèn lồng đẹp được bạn bè ngưỡng mộ, chúng sẽ nối đuôi theo sau tung hê, reo hò. Người lớn cũng tham gia cuộc vui này. Họ đốt lửa trại, bỏ tiền mua ít bánh kẹo phát cho chúng tôi. Đứa nào cũng muốn tranh phần hơn, tay xách đèn, tay giành quà nên đôi khi nến trong đèn lồng phát cháy. Cuộc vui thường kéo dài đến khuya. Mãi cho đến khi ông trăng ẩn vào mây, chúng tôi mới tắt nến xách đèn quay về nhà.

Nhớ những năm mưa rơi như trút nước vào mùa Trung thu. Trẻ con chúng tôi cụt hứng, đốt đèn treo trước nhà và ngồi ngắm mưa. Có đứa quay quần cùng gia đình ăn bánh dẻo, uống nước trà và xem ti-vi. Còn tôi, ngồi bó gối trước thềm, ngước lên nhìn trăng và cầu mong sao ba mẹ làm có tiền để mỗi năm tôi đều được ăn bánh Trung thu. Nhà đốt đèn dầu leo lét lại gặp phải cơn mưa nên muỗi tràn vào nhà như dân tị nạn. Ba mẹ lặng lẽ ra ngồi ngoài hiên cùng tôi. Cả gia đình ngắm trăng mắc nước, nghe chẫu chàng hát và đưa tay đập muỗi không ngừng. Chỉ thế thôi nhưng tôi thấy lòng ấm cúng, lâng lâng.

Rồi những mùa Trung thu sau đó, chúng tôi lớn dần. Đám trẻ con trong xóm ngày nào giờ ra dáng trưởng thành. Chúng tôi chuyển lên trường huyện, trường tỉnh rồi vào đại học. Những chiếc đèn lồng ông sao, cá chép, bươm bướm bỏ lại làng quê. Mỗi đứa một nẻo, quẩn quanh trong thế giới xô bồ của thị thành để kiếm tìm hạnh phúc. Một hạnh phúc tân thời cho những đứa trẻ hiện tại và tương lai với chiếc lồng đèn điện tử sặc sỡ. Những chiếc lồng đèn vô hồn, lạnh nhạt như những viên pin. Nó là biểu tượng của trí óc nhưng lại lười đi trên những đôi tay. Bồi hồi nghĩ về Trung thu ký ức. Chợt thương làm sao những chiếc đèn lồng thủ công.

 

Đặng Trung Thành (Bưu điện Tân Kiên, A1/70, đường Trần Đại Nghĩa,

phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh)

 

Các tin khác

Không có hình ảnh
Không có hình ảnh
Không có hình ảnh
Không có hình ảnh

Chuyện đầu làng-cuối phố: Muôn nẻo... nghề nghiệp

(HBĐT) - Quán nước chè đầu khu phố X. dạo này đang râm ran chuyện cháu A. con nhà chú X. đi học nghề sửa xe ô tô ở Bắc Ninh. Chuyện lạ… vì trước đây, khu này, các cháu đều lần lượt vào hết đại học, cùng lắm là cao đẳng chứ mấy ai lại chủ động đi học nghề. Gì cũng phải trượt đại học mấy bận mới đi học kiểu đó. ông Miễn, hiện đang có 2 con sắp tốt nghiệp đại học là người lên tiếng trước. Phả khói thuốc lào ra đằng mũi một cách điệu nghệ, ông phán:

Yêu thương bình dị

(HBĐT) - Sáng thức giấc gặp dòng sông và mặt trời trước mặt, dãy núi và vầng trăng sau lưng. Chiều ngoảnh mặt lại gặp mặt trời, dãy núi, dòng sông và ánh trăng. Mấy mươi năm như vậy tưởng như đã quá quen thân, tưởng như không còn gì mới mẻ để ngắm nghía và trầm trồ. ấy vậy mà không dễ để khỏi thốt ra lời yêu thương bởi lẽ yêu thương được nuôi dưỡng từ những điều quen thân tưởng như đã trở thành bình dị ấy.

Vẫn còn những mùa gió

(HBĐT) - Đang yên đang lành thì được lệnh của bác trưởng họ: "Về có việc gấp. Nhà bác có biến”. Tức tốc về. Nhà yên ắng, chẳng có việc gì. Hàng tre bên chái nhà vẫn rì rào khúc hát ngàn năm: bình yên như chưa bao giờ giông gió, nắng mưa. Chỉ lạ là vợ chồng con trưởng bác không ở nhà. Anh Thiều đi vắng đã đành, đằng này, chị Len cũng không có mặt.

Nỗi đau mang tên chất độc da cam dioxin

(HBĐT) - Sinh ra trong một gia đình thuần nông, ông bà đến với nhau sau cuộc chiến tranh chống Mỹ. Ngày ấy ông là lính chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị năm 1972. Khi rời quân ngũ ông trở về với một cánh tay đã mất. Bà là cô thôn nữ liền đem lòng yêu anh lính. Tình yêu của họ cũng đơn sơ, giản dị, mộc mạc như cái tên của ông bà. Ông Binh, bà Nết.