(HBĐT) - Sau 45 năm, vẫn còn nụ cười ấy, vẫn những con người ấy của những chiến sỹ dân quân "lòng gang, dạ sắt” trong trận vây bắt phi công Mỹ nhảy dù và đánh trả không quân Mỹ tổ chức ứng cứu đồng bọn tại đồi Bù, xã Hợp Hòa (Lương Sơn) trong 12 ngày đêm "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” tháng 12/1972.


Tên thiếu tá phi công Mỹ William Winson bị dân quân xã Hợp Hòa bắt tại đồi Bù ngày 29/12/1972. ảnh: TL

 

Hoãn đám cưới cùng cả làng đi bắt giặc lái 

Đó là câu chuyện của bà Hoàng Thị Bướm và ông Vũ Văn Chang ở xóm Suối Cốc. Trong ngôi nhà tuềnh toàng còn lại một mình, hướng mắt nhìn về tấm di ảnh của chồng trên ban thờ, bà Hoàng Thị Bướm cười buồn: ông nhà tôi mất năm 2016. Nếu ông ấy còn sống thì năm nay chúng tôi sẽ tổ chức kỷ niệm tròn 45 năm ngày cưới.

Trong trí nhớ của bà Hoàng Thị Bướm, vào khoảng 10 h đêm ngày 22/12/1972, khi mọi người trong làng đang giúp gia đình bà hoàn thành nốt công việc chuẩn bị để tổ chức lễ cưới, bỗng có một tiếng nổ đanh gọn vang lên từ phía đồi Bù. Tất cả chạy ra sân thì thấy từ trên trời có luồng sáng đang lao nhanh xuống xóm Suối Cỏ. Giữa vùng đồi núi tối đen đám cháy như bó đuốc khổng lồ đã làm sáng lên từng lá cây, ngọn cỏ. Không ai bảo ai, tất cả đều hướng lên trời, khối lửa của máy bay cháy đùng đùng soi rõ cái dù lớn treo lơ lửng một vật tròn tròn đang rơi xuống khu vực đồi Vầu, đồi ông Mo và điểm cao 833 của đồi Bù. Sau đó là tiếng trống báo động vang lên dồn dập. Các trung đội dân quân của xã khẩn trương có mặt tại điểm tập trung triển khai đội hình bí mật tiến về khu vực có giặc lái Mỹ nhảy dù xuống.

"Dù rừng núi hoang vu, cây cối rậm rạp nhưng cũng không khó để tìm ra buồng lái của chiếc máy bay phản lực F111 bị quân ta bắn rơi. Khi chúng tôi tiếp cận buồng lái thì những tên phi công đã không còn ở đó”, bà Hoàng Thị Bướm nhớ lại. Xác định chúng chưa thể đi xa khỏi ngọn đồi và chưa thể có sự ứng cứu từ đồng bọn. Trung đội dân quân du kích đã tổ chức bao vây, truy bắt giặc lái. Sau 1 ngày, 2 đêm truy lùng theo dấu tích, đến 7h sáng ngày 24/12/1972, trung đội dân quân Hợp Hoà đã bắt được tên đại úy phi công Mỹ đang run rẩy nép mình trong đám cỏ lau. Còn tên thiếu tá phi công đã kịp trốn lên điểm cao cho đến ngày 29/12/1972 mới bị lực lượng dân quân xã Hợp Hòa bắt được trong bộ dạng tiều tụy, đói khát.

Cũng trong dòng chảy ký ức của trận đánh đồi Bù, lão dân quân Hoàng Thị Xô ở xóm Suối Cốc nhớ lại: Thời điểm trước khi giặc lái Mỹ nhảy dù, anh chị em trong đội dân quân chúng tôi vừa bàn bạc, hẹn nhau đến sáng ngày 23/12/1972 đi rừng lấy củi về để phục vụ đám cưới của anh Vũ Văn Chang và chị Hoàng Thị Bướm. Nhưng nhận lệnh của trên, tập trung cho nhiệm vụ bắt giặc lái, đám cưới được hoãn lại dù mọi công việc chuẩn bị đã cơ bản hoàn tất. Để đảm bảo lương thực, hậu cần cho lực lượng dân quân xã truy bắt giặc lái và đánh trả không quân Mỹ đến ứng cứu, toàn bộ hơn 1 tạ gạo cùng con lợn vừa thịt đã được gia đình dành cho lực lượng dân quân. Đáng nói hơn, trong trận đánh này, cả anh Vũ Văn Chang và chị Hoàng Thị Bướm đều tham gia và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Trong đó "cô dâu” Hoàng Thị Bướm đã trở thành một trong những tấm gương dũng cảm, mưu trí bám trận địa, đánh địch. Còn "chú rể” Vũ Văn Chang lại là một trong những người đầu tiên phát hiện và bắt sống tên thiếu tá phi công Mỹ tại khu vực điểm cao 833.

Sau trận đánh, đám cưới của đôi vợ chồng chiến sỹ dân quân này đã được tổ chức trọn vẹn cùng niềm vui chiến thắng của chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không” trong 12 ngày đêm địch dùng không quân điên cuồng đánh phá hậu phương lớn miền Bắc. Ngày đó, trong đám rước dâu, họ còn được chứng kiến máy bay trực thăng của ta cẩu buồng lái chiếc máy bay Mỹ về Hà Nội trong niềm vui sướng vỡ òa xen lẫn cảm giác tự hào. Càng tự hào hơn khi ngay sau đó, "cô dâu” Hoàng Thị Bướm cùng với một số anh chị em dân quân xã vinh dự được kết nạp vào Đảng.

 Chiến công xuất sắc, độc đáo

 Sau chiến thắng đồi Bù, bắt sống 2 tên giặc lái Mỹ, hơn 40 năm sau, những lão dân quân ở Hợp Hòa mới biết chiếc máy bay F111 rơi xuống đồi Bù là loại máy bay hiện đại nhất của không quân Mỹ lúc bấy giờ đã bị những chiến sỹ tự vệ Công ty Cơ khí Mai Động bắn cháy khi chúng ngông cuồng vào ném bom, bắn phá Thủ đô Hà Nội.

 Sau 45 năm, những chiến sỹ dân quân năm xưa người còn, người mất nhưng chiến công truy bắt giặc lái và chiến đấu ngăn chặn lực lượng giải cứu tại đồi Bù đã đi vào lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ của quân và nhân dân trong tỉnh. Trận đánh này đã góp thêm "lửa” cho trận chiến "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” mùa đông năm 1972. Cuộc vây bắt đã được triển khai với quy mô lớn, bắt sống được 2 tên giặc lái Mỹ là thiếu tá William Winson và đại úy Robert David Raybanger, thu toàn bộ vũ khí, phương tiện chiến đấu, liên lạc, đảm bảo an toàn tuyệt đối, không có ai bị thương vong là một chiến công lớn.

 Ngoài ra, trong quá trình vây bắt giặc lái, lực lượng dân quân xã Hợp Hòa đã phối hợp với các lực lượng tổ chức chiến đấu chống trả kiên cường các đợt không kích nhằm giải cứu phi công của địch và bắn cháy 1 máy bay trực thăng đến ứng cứu phi công. Chiếc máy bay trực thăng này, theo nhiều người sau đó đã rơi ở khu vực Suối Rút, huyện Mai Châu.

 Không thể kể hết những khó khăn, vất vả của những chiến sỹ dân quân và nhân dân khi tham gia vây bắt giặc lái. Từ trong gian khó đã có nhiều tấm gương dũng cảm không ngại gian khổ, vượt qua bom đạn ác liệt.

 Trong cuộc chiến đấu này, không thể kể hết những khó khăn, gian khổ của chiến sỹ dân quân Hợp Hòa năm xưa. Những câu chuyện chiến đấu bắt sống giặc lái, bắn cháy máy bay Mỹ của lão dân quân ở xóm Suối Cốc chắc chắn sẽ còn được kể mãi. Theo đồng chí Hoàng Kim Quy, Chủ tịch UBND xã Hợp Hòa cho biết, tới đây, xã tổ chức kỷ niệm 45 năm chiến thắng đồi Bù để thế hệ trẻ biết được truyền thống anh dũng, kiên cường, bất khuất của thế hệ cha ông. Cuộc chiến đã lùi xa, nhưng chiến công đó của những chàng trai, cô gái thủa đôi mươi nay đã lên ông lên bà được ghi dấu đậm nét trong chiến công của quân và dân miền Bắc đánh thắng giặc Mỹ trong chiến dịch "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” năm 1972. Đó là trang sử chói lọi, hào hùng. Một mốc son không thể nào quên trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.



                                                                  Mạnh Hùng

 


Các tin khác


Khúc quân ca trên đảo Trường Sa

(HBĐT) - Đảo Trường Sa lớn sừng sững, hiên ngang hiện ra trước sự háo hức của chúng tôi sau nhiều ngày lênh đênh trên biển. Ba hồi còi tàu vang lên chào đảo hòa chung với tiếng nói tự hào từ trong tim: Chào Trường Sa!

Trường Sa Đông - mặc sóng gió, mãi hiên ngang trước biển

(HBĐT) - Mặc dù trước khi lên đảo, chúng tôi được nghe kể nhiều về Trường Sa Đông. Nhưng quả thật, khi xuồng còn chưa cập đảo, tôi đã choáng ngợp trước màu xanh của cây cối hoà trong sắc xanh vời vợi của trời và màu nước xanh thăm thẳm của biển cả...

Ký sự Trường Sa Bài 6 - “đẹp dịu dàng tiên nữ - an bang”

(HBĐT) - "Tôi muốn ôm ghì bãi san hô/Vang vọng về con sóng Bạch Đằng Giang/Một màu xanh Sinh Tồn, Song Tử/Đẹp dịu dàng tiên nữ An Bang/Bao xương máu đắp hình hài Tổ quốc/Vang vọng về dòng máu Lạc Hồng xưa...”, lời bài hát "Bâng khuâng Trường Sa” của tác giả Lê Đức Hùng mỗi sáng sớm được phát trên hệ thống phát thanh của tàu Trường Sa 571 đọng lại thật nhiều cảm xúc. Giữa trùng khơi dữ dằn sóng gió, chúng tôi vẫn thấy vẻ đẹp dịu dàng nơi điểm đảo cực Đông và cực Nam trên quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Tổ quốc...

Cô Lin, Sinh Tồn vững vàng nơi “mắt bão”

(HBĐT) - Cô Lin, Sinh Tồn - điểm đến đầu tiên của cuộc hải trình của đoàn công tác số 11 đến thăm, động viên quân và dân trên quần đảo Trường Sa và nhà giàn DK1. Nhìn trên bản đồ, Cô Lin, Sinh Tồn chỉ nhỏ như một vết chấm nhỏ, song đã đi vào lịch sử nước nhà bằng những chiến công bi tráng trong chiến dịch bảo vệ chủ quyền năm 1988 của CBCS Hải quân nhân dân Việt Nam.

Bài 5: Bất tử Gạc Ma

(HBĐT) - Cũng giống như tất cả các cuộc hải trình đến với Trường Sa trước đây, điểm đến đầu tiên của chúng tôi không phải là điểm đảo. Mà là một cuộc tưởng niệm những người lính đã hy sinh vì chủ quyền biển đảo tại Gạc Ma ngày 14/3/1988. Dù đã 30 năm, nhưng nước mắt vẫn chưa ngừng rơi...

Bài 4 – Cuộc hành trình đi về phía mặt trời

(HBĐT) - Cho đến bây giờ, trong chuyến hải trình cùng con tàu Trường Sa 571, tôi mới hiểu tại sao trong suốt bao nhiêu năm qua, anh bạn học cùng Đại học, hiện đang công tác tại một cơ quan báo chí trung ương(vốn là một người lính Trường Sa sau khi hết nghĩa vụ quân sự mới về đất liền thi đại học), trong tất cả bài viết của mình đều lấy bút danh Phương Đông. Bởi, phía mặt trời mọc ấy cũng là Trường Sa...