(HBĐT) - 64 năm đã trôi qua nhưng tinh thần chiến đấu quyết tử vẫn còn vẹn nguyên trong ký ức những người chiến sĩ Điện Biên Phủ. Những chàng thanh niên tuổi đôi mươi quê hương đồng bằng đã tình nguyện nhập ngũ, hành quân ngược núi vượt đèo lên đến Điện Biên Phủ. Thức ăn là củ sắn củ mài, doanh trại là núi rừng và hang đá nhưng họ đã dũng cảm, vững tay súng xông lên, cùng trải qua 3 đợt chiến đấu gay go và gian khổ liên tục trong 56 ngày đêm để làm nên thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ vào ngày 7/5/1954.


Ông Bùi Quang Thản (phải) và Nguyễn Quốc Ấn (trái) cùng nhau ôn lại những giây phút tự hào trong chiến thắng Điện Biên Phủ. 

Trong căn nhà nhỏ trên đường Trần Quốc Toản, phường Đồng Tiến, thành phố Hòa Bình ông Bùi Quang Thản, Trưởng ban liên lạc chiến sĩ Điện Biên Phủ thành phố Hòa Bình đã kể cho chúng tôi nghe về những tháng ngày gian khổ mà vô cùng oanh liệt đó. Ông nhớ lại: Năm 16 tuổi tôi xung phong lên đường tòng quân, 7 năm sau, tôi được biên chế về Sư đoàn 312 là một trong những sư đoàn bộ đội chủ lực cơ động đầu tiên của QĐND Việt Nam và trực tiếp tham gia chiến đấu ở Điện Biên Phủ. Lúc này Điện Biên Phủ là rừng núi hoang vu, Sư đoàn không ở tập trung một khu vực mà mỗi tiểu đội ở rải rác 1 ngọn núi, quả đồi. Núi rừng là nhà, là lán trại che chở cho bộ đội. Cuộc sống của bộ đội thiếu thốn trăm bề, phải sống dựa vào dân, vào sản vật của rừng. Vũ khí chiến đấu cũng khá thô sơ, nhiều khi chỉ có cây súng trường trong tay nhưng cũng sẵn sàng xông lên. Bộ đội lúc đó đa phần đều còn rất trẻ, tuổi chỉ đôi mươi, đã nhập ngũ, bước chân ra chiến trường là không còn nghĩ đến chuyện sống – chết, xác định tư tưởng rất thoải mái. Tinh thần chiến đấu luôn sẵn sàng, sục sôi, nhất là trong những ngày tổng tiến công. Cứ có lệnh của chỉ huy là cầm súng. Bây giờ nhiều lúc nghĩ lại, tôi vẫn còn cảm thấy "rợn tóc gáy” bởi cuộc sống thiếu thốn và bom đạn ác liệt những tháng ngày đó. Tôi bị thương đúng vào ngày chiến thắng 7/5/1954 nhưng cùng lúc đó được chứng kiến hình ảnh những người đồng đội của mình ở Sư đoàn 312 cắm lá cờ lên nóc hầm và bắt sống tướng Đờ Cát cùng bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm ngày 7/5/1954 để kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ thì mọi đau đớn dường như tan biến. Cảm xúc sung sướng, hạnh phúc, tự hào đó dường như đến hôm nay vẫn còn nguyên vẹn.

Cũng trực tiếp tham gia chiến đấu tại chiến dịch Điện Biên Phủ nhưng ông Nguyễn Quốc Ấn lại được giao nhiệm vụ khá đặc biệt, đó là công tác quân giới. Ông Ấn nhớ lại: Trước khi bước vào chiến dịch Điện Biên Phủ, đơn vị chúng tôi được lệnh lên Tuyên Quang nhận vũ khí, đó là pháo 105 mm, vũ khí hạng nặng đầu tiên của quân đội ta. Để đảm bảo bí mật, những khẩu pháo lớn được đánh dấu từng bộ phận và tháo rời và bộ đội lên rừng chặt tre, nứa đóng bè và chở pháo theo đường sông về địa điểm tập kết an toàn. Trong khi đang học quan trắc pháo 105, tôi được lệnh của Cục quân khí đi học về đạn pháo, sau đó được điều về ban quân giới của chiến trường. Thời điểm đó, việc sử dụng đạn pháo 105 mm của ta phải hết sức tiết kiệm. Tôi vẫn nhớ mãi lời căn dặn của anh Nguyễn Đình Thuật, Trưởng ban quân giới: "Đây là lần đầu tiên quân đội ta được trang bị pháo 105 mm. Vì vậy, các đồng chí phải chú ý đáp ứng được yêu cầu của từng trận đánh trên chiến trường đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả cao. Theo đó, chúng tôi đã nhớ kỹ ký hiệu từng loại đạn như đạn xuyên để đánh hầm ngầm, đạn nổ sát thương để đánh bộ binh, đạn xuyên phá nổ để đánh lô cốt địch... Trong chiến dịch, pháo 105 mm của ta bắn đầu trúng đấy, đánh thắng ngay từ trận đầu. Tuy nhiên, vì vũ khí thời kỳ đó khan hiếm, pháo 105 mm lại càng quý nên trong chiến đấu chúng tôi luôn phải tập trung cao độ, đảm bảo khi cần phân tán thì phân tán nhưng khi cần tập trung hỏa lực thì cũng sẽ tập trung được ngay để tiêu diệt từng cứ điểm của địch, có như vậy mới từng bước giành thắng lợi được.

Đặc biệt, ông Ấn còn kể cho chúng tôi nghe về những mưu lược của quân ta để bảo toàn quân khí đó là việc đánh trận giả. Ông kể: Để bảo toàn lực lượng, chúng tôi còn lập "trận giả”. Đó là dùng gỗ thui đốt cho đen như khẩu pháo rồi nghếch nòng lên. Khi trận địa thật phát hỏa thì chiến sĩ phụ trách nghi binh từ trong công sự sẽ lao ra ném bộc phá, tung lên không trung, để địch nhầm tưởng đó là khu vực chúng ta đặt pháo, sẽ tập trung đánh vào trận địa giả. Như vậy, pháo thật sẽ được bảo vệ và tham chiến, tiêu hao sinh lực địch, góp phần làm nên thắng lợi.

Bằng tinh thần quyết tử, bằng sức trẻ, bằng những mưu lược và đặc biệt là vì tình yêu nước luôn nung nấu trong tim, mỗi chiến sĩ Điện Biên Phủ nằm xưa đã là một mảnh ghép để góp phần làm nên bức tranh chiến thắng Điện Biên vang dội, chấn động địa cầu. Kí ức của chiến sĩ Điện Biên, câu chuyện mà họ kể lại ngày hôm nay sẽ tiếp tục là than hồng để thế hệ trẻ đốt cháy lên niềm tự hào, tự tôn dân tộc.

Dương Liễu


Các tin khác


Bài 5: Bất tử Gạc Ma

(HBĐT) - Cũng giống như tất cả các cuộc hải trình đến với Trường Sa trước đây, điểm đến đầu tiên của chúng tôi không phải là điểm đảo. Mà là một cuộc tưởng niệm những người lính đã hy sinh vì chủ quyền biển đảo tại Gạc Ma ngày 14/3/1988. Dù đã 30 năm, nhưng nước mắt vẫn chưa ngừng rơi...

Bài 4 – Cuộc hành trình đi về phía mặt trời

(HBĐT) - Cho đến bây giờ, trong chuyến hải trình cùng con tàu Trường Sa 571, tôi mới hiểu tại sao trong suốt bao nhiêu năm qua, anh bạn học cùng Đại học, hiện đang công tác tại một cơ quan báo chí trung ương(vốn là một người lính Trường Sa sau khi hết nghĩa vụ quân sự mới về đất liền thi đại học), trong tất cả bài viết của mình đều lấy bút danh Phương Đông. Bởi, phía mặt trời mọc ấy cũng là Trường Sa...

Khoảng lặng bên Tượng đài Tây Tiến Mộc Châu

(HBĐT) - Trung đoàn 52 (Trung đoàn Tây Tiến) đã đi vào lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam bằng những dấu son chiến công đặc biệt. Trung đoàn cũng đi vào thi ca, nhạc họa và tạo nên những giá trị tinh thần bền bỉ cùng thời gian. Ghi nhận những chiến công, sự hy sinh mất mát của người lính Tây Tiến trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ở miền Bắc đã có nhiều tượng đài, con đường, trường học mang tên Tây Tiến. Tượng đài ở Châu Trang (Thượng Cốc - Lạc Sơn), đài tượng niệm ở ngã ba Chăm Mát (thành phố Hòa Bình), tượng đài ở Mường Lát (Thanh Hóa)…

Bài 3: Tháng tư - những “đứa con” Trường Sa trở về đất “mẹ”

(HBĐT) - 3 năm, hay dù có lâu hơn nữa thì cuộc chiến đấu giành lại Trường Sa về với đất mẹ của những người lính trong "mùa xuân đại thắng” vẫn luôn là một dấu son lịch sử không bao giờ phai nhóa trong tâm trí người dân Việt Nam.

Bài 2 - Chuyện của những chàng “Sơn Tinh” giữ đảo

(HBĐT) - Với đại tá Nguyễn Văn Sơn, Chỉ huy trưởng Ban CHQS huyện Lạc Thuỷ; thượng tá Nguyễn Thanh Khoa, Chánh thanh tra quốc phòng - Bộ CHQS tỉnh hay thương tá Mai Quốc Tuấn, Phó Chủ nhiệm kỹ thuật - Bộ CHQS tỉnh - những người đã từng cầm súng giữ đảo thì Trường sa gần lắm. Vì Trường Sa đã ở trong tim rồi...

Ký Sự Trường Sa

(HBĐT) - Tháng 4 - mùa biển lặng chúng tôi theo những con tàu hướng về Trường Sa - một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc. Đi theo dấu chân của những vị "hùng binh” thủa trước trần mình đạp sóng vươn khơi giữ đảo, giữ biển cho đến lớp thanh niên thế hệ Hồ Chí Minh tiếp bước trở thành những "hùng binh” nơi Trường Sa suốt bốn mùa sóng vỗ...