(HBĐT) - Nhắc đến ruộng bậc thang ở Hòa Bình không thể không nói đến ruộng bậc thang ở Miền Đồi, một xã vùng 135 của huyện Lạc Sơn. Đây thực sự là một công trình nhân tạo ấn tượng của huyện Lạc Sơn nói riêng và trên vùng đất cửa ngõ Tây Bắc nói chung.

 

Người dân xã Miền Đồi (Lạc Sơn) thu hoạch lúa vụ chiêm xuân năm 2020 trên những thửa ruộng bậc thang.

Chúng tôi đến Miền Đồi đúng dịp người dân đang tất bật thu hoạch lúa vụ chiêm xuân. Nhìn từ xa, các thửa ruộng bậc thang uốn lượn mềm mại như những dải lụa vàng xếp tầng, xếp lớp men theo sườn đồi, nối tiếp nhau, óng ánh trong nắng vàng rực rỡ. Để có được tuyệt tác này phải kể đến mồ hôi, công sức lao động của biết bao thế hệ người dân nơi đây, bằng sự cần mẫn đã kiến tạo nên hơn 400 ha ruộng bậc thang trên đồi, núi. Đó cũng là nguồn cung cấp lương thực ổn định cho 141 hộ, gần 700 nhân khẩu ở Miền Đồi.

Chẳng biết ruộng bậc thang ở Miền Đồi có từ bao giờ. Ngay cả những bậc cao niên 90 - 95 tuổi cũng chỉ biết "từ nhỏ đã thấy quê mình có ruộng bậc thang”. Các cụ bộc bạch: "Ở vùng cao nên người dân phải khai phá đất trồng lúa trên các triền đồi, dốc núi và phải giữ rừng mới tạo được nguồn sinh thủy, phải đắp bờ mới giữ được nước”. Địa thế của đồi núi đã tạo nên những thửa ruộng lớn nhỏ khác nhau, dù cày bừa, chăm sóc, cấy hái khó khăn, vất vả hơn nhiều so với những cánh đồng bằng phẳng ở vùng thấp, nhưng đây là hình thức canh tác hiệu quả đã được đồng bào Mường ở Miền Đồi áp dụng từ lâu và mang lại cuộc sống ngày càng no ấm.

Anh Bùi Văn Tưởng, xóm Dóm Bái chia sẻ: "Tôi nghe các cụ kể lại, ngày xưa làm ruộng bậc thang vất vả lắm. Tạo thửa, đắp bờ bằng tay, bằng xẻng. Nhiều hộ nghèo khó còn phải kéo bừa thay trâu. Mương dẫn nước về ruộng đắp bằng đất hoặc nối bằng bương, luồng. Trong nhịp sống mới, vẫn những thửa ruộng ấy, nhưng việc thâm canh trên ruộng bậc thang giờ đỡ vất vả hơn nhiều. Với sự quan tâm của Nhà nước, đầu nguồn đã có bai ngăn nước, hệ thống mương máng được cứng hóa. Đến nay, bình quân 4 hộ có 1 máy cày bừa. Máy tuốt lúa, máy xay xát cũng đã thay thế cách thu hoạch, chế biến thủ công trước đây”. Cầm trên tay những bông lúa trĩu hạt, ảnh Tưởng hồ hởi: "Nhờ đất, nhờ trời, lúa ở đây tuy năng suất chỉ từ 40 - 45 tạ/ha, nhưng chất lượng thì tuyệt vời. Hạt gạo thon dàt, trắng muốt. Ăn bát cơm gạo mới, nhất là giống bao thai, ai nấy đều háo hức với hương thơm dịu nhẹ, độ dẻo vừa phải, mềm cơm và cơm vẫn mềm sau khi để nguội. Vì vậy, ngoài đảm bảo lương thực tại chỗ, gạo ở Miền Đồi được khách hàng gần xa ưa chuộng, giá bán cao nhưng không có nhiều để đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Do trình độ thâm canh ngày càng được nâng cao, nên ruộng bậc thang ở Miền Đồi được trồng 2 vụ/năm. Trong đó, vụ chiêm xuân 153 ha, với các giống lúa BC15, BC25; vụ hè  thu 308 ha, được trồng chủ yếu bằng giống lúa bao thai. Vụ chiêm xuân, do nguồn nước hạn hẹp hơn, già nửa diện tích đất còn lại được bà con thay thế bằng các loại cây màu như ngô, khoai lang, rau, đậu, lạc, kiệu, hành dăm… Qua đó, không chỉ tạo sự đa dạng, phong phú về cây trồng, mà còn nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống Nhân dân.

Đưa máy cày, máy bừa xuống ruộng bậc thang để giảm sức kéo cho trâu, bò là bước tiến vượt bậc để tăng năng suất, giảm giờ làm và cũng thể hiện rõ sự mạnh dạn, sáng tạo của người dân Miền Đồi. Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Bùi Văn Nghị chia sẻ: Là ruộng bậc thang nên phải làm thang để đưa máy cày, bừa từ thửa nọ sang thửa kia. Mỗi lần di chuyển máy phải có 5 - 6 người khỏe mạnh mới thực hiện được. Đó cũng là niềm vui, tạo sự đoàn kết, gắn bó tình làng, nghĩa xóm trong lao động sản xuất.

Từ vẻ đẹp huyền ảo của những bậc thang vàng giữa màu xanh núi rừng, vẻ đẹp kỳ vĩ của đồi Lè (xóm Vôi Thượng) ở độ cao hơn 1.000 m so với mực nước biển, nhiều bạn trẻ và cả những "phượt thủ" đã chọn Miền Đồi là điểm đến trải nghiệm, khám phá. Tuy nhiên, hiện nay, những cảnh sắc thiên nhiên đẹp, bản sắc văn hóa từ nếp nhà sàn, ẩm thực dân tộc đậm bản sắc của đồng bào Mường ở Miền Đồi vẫn còn là những tiềm năng về du lịch chưa được khai thác.

Với nỗ lực của cấp ủy, chính quyền và Nhân dân, đến nay, xã Miền Đồi đạt 11/19 tiêu chí trong chương trình xây dựng NTM. Trục đường chính và các tuyến đường liên xóm hầu hết đã được bê tông hóa; tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia đạt 100%. Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Bùi Văn Nghị bày tỏ: Về với Miền Đồi là hành trình trên con đường uốn lượn qua dốc, đèo trập trùng, du khách được khám phá những khung cảnh mới mẻ của thiên nhiên, thưởng ngoạn cảnh quan tuyệt đẹp của bạt ngàn những bậc thang lúa chín. Được hòa vào đời sống, sinh hoạt của đồng bào Mường trong cảnh gặt hái với những gương mặt bừng sáng của người nông dân vùng cao về một ngày mùa ấm no, cùng tham gia các hoạt động văn hóa sôi động, đậm đà bản sắc… Chúng tôi mong lắm khi quê hương mình trở thành điểm đến của du khách gần, xa. Chia sẻ của Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã cũng là tiếng lòng của người dân Miền Đồi gửi đến các cấp, ngành, các nhà đầu tư, để tiềm năng lớn về du lịch ở Miền Đồi không chỉ mãi là tiềm năng.


                                                                 Đức Phượng

Các tin khác


Ký sự bản Mông


(HBĐT) - Sống giữa núi rừng Tây Bắc, người dân bản Mông vẫn luôn mạnh mẽ, kiên cường, với khát vọng vươn lên trở thành bản, làng văn minh dựa trên nền tảng truyền thống, là điểm đến hấp dẫn bạn bè phương xa. Bản Mông hôm nay đã khác, đã có những thứ tạo nên sợi dây níu chân người ở lại.
Bài 2 - Hiện thực hóa khát vọng "nảy mầm xanh trên đá”

Ký sự bản Mông

(HBĐT) - "Tôi có may mắn được đặt chân đến nhiều vùng đất, gặp gỡ nhiều con người thuộc nhiều dân tộc khác nhau. Ở mỗi nơi, cái tình của con người lại được thể hiện bằng những cách khác nhau, nhưng họ đều chung sự chân thành. Và ở bản Mông thuộc 2 xã Hang Kia, Pà Cò (Mai Châu) cũng vậy, đã lâu mới quay trở lại, vẫn những con người chân chất, hiền hòa. Bản Mông năm nào nay đã khoác lên mình "chiếc áo” mới của cơ sở hạ tầng khang trang, chất lượng cuộc sống được cải thiện, và hơn thế nữa là sự đoàn kết cộng đồng, tin tưởng vào Đảng, chính quyền của người Mông". Đó là lời tâm huyết từ một sỹ quan quân đội, người con của bản làng, Thiếu tá Hàng A Phứ, Chính trị viên phó Ban CHQS huyện Mai Châu.
Bài 1: "Sinh ra từ làng, phải góp sức cho làng!”

Mo Mường Hòa Bình hướng tới di sản văn hóa thế giới

(HBĐT) - Với những giá trị vô cùng đặc sắc, quý giá, nhưng mo Mường đang đứng trước nguy cơ mai một. Tỉnh đã triển khai các biện pháp bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu này và có những tín hiệu vui trên đường tới di sản văn hóa thế giới.
Bài 2 - Đường tới di sản thế giới

Mo Mường Hòa Bình hướng tới di sản văn hóa thế giới

(HBĐT) - Người Mường ở Việt Nam sống tập trung đông nhất tại tỉnh Hòa Bình. Hòa Bình cũng là cái nôi của nền "Văn hóa Hòa Bình” nổi tiếng, nơi có 63,3% dân số là dân tộc Mường. Suốt chiều dài lịch sử, người Mường đã sáng tạo, chắt lọc, lưu giữ kho tàng di sản văn hóa phong phú, đặc sắc. Trong đó, mo Mường là một hiện tượng văn hóa nổi trội, di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu, đặc biệt, quý giá, có giá trị tư tưởng, nhân văn sâu sắc.
Bài 1 - Khẳng định giá trị tiêu biểu, đặc biệt của mo Mường

Bức tranh cuộc sống mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số

(HBĐT) - Chất lượng cuộc sống người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) đã được nâng lên rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm, xuất hiện ngày càng nhiều hộ làm kinh tế giỏi. Tuy nhiên, để vùng đồng bào DTTS phát triển đồng đều, thu hẹp khoảng cách với vùng thuận lợi, thì cả hệ thống chính trị cần quyết liệt thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, nhằm hiện thực hóa mục tiêu giảm nghèo bền vững tại các xã vùng sâu, xa, vùng đặc biệt khó khăn (ĐBKK).
Bài 2 - Nâng cao chất lượng đời sống người dân 

Bức tranh cuộc sống mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số

(HBĐT) - Là cửa ngõ vùng Tây Bắc, tỉnh Hòa Bình có dân số trên 83 vạn người, với 6 dân tộc chủ yếu là: Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao, Mông… trong đó, dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm 74,31%. Trong những năm qua, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về quan tâm, hỗ trợ phát triển vùng đồng bào DTTS, tỉnh đã có nhiều giải pháp, hoạt động cụ thể nhằm nâng cao chất lượng đời sống vùng đồng bào DTTS, thúc đẩy KT - XH phát triển, góp phần đảm bảo ANCT - TTATXH địa phương.
Bài 1: Ưu tiên nguồn vốn đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Xem các tin đã đưa ngày:
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục