(HBĐT) - Kinh tế trang trại (KTTT) là cơ sở, tiền đề khơi dậy tiềm năng trong Nhân dân để chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thúc đẩy áp dụng KH-KT vào sản xuất, góp phần tạo ra các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, làm tăng khối lượng và giá trị hàng hóa. Tuy nhiên, hiện nay, KTTT phát triển chưa ổn định, không đồng đều giữa các vùng. Đa số các chủ trang trại hoạt động độc lập, chưa có sự liên kết giữa các trang trại với nhau và với tổ chức kinh tế khác như liên kết vùng sản xuất, tiêu thụ, chế biến sản phẩm.

 

Bài 2 - Để kinh tế trang trại phát triển bền vững




Ông Nguyễn Thành Tô (bên trái), xóm Thung Dao Bắc, xã Tú Sơn (Kim Bôi) chủ trang trại trồng trọt chia sẻ kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại.

 Xu thế tất yếu của sản xuất nông nghiệp hàng hóa

 Tỉnh có tiềm năng lớn về đất đai là cơ sở để các hộ gia đình phát triển KTTT. Theo thống kê của Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh, đến cuối năm 2019, theo Thông tư số 27, ngày 13/4/2011 của Bộ NN&PTNT (TT 27), toàn tỉnh có 180 trang trại, gồm: 89 trang trại chăn nuôi, 63 trang trại tổng hợp, 14 trang trại trồng trọt, 10 trang trại thủy sản và 4 trang trại lâm nghiệp. Có 135 trang trại được cấp giấy chứng nhận theo TT 27. Tổng diện tích đất của các trang trại là 627,26 ha. Vốn trung bình một trang trại là 258.218 triệu đồng. Tổng số lao động thường xuyên là 779 người. Giá trị nông, lâm, thủy sản bình quân một trang trại thu được hơn 1,434 tỷ đồng.

Thực tế cho thấy, KTTT giúp tạo việc làm ổn định với thu nhập khá cho nhiều lao động nông thôn; góp phần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và xây dựng NTM. Đặc biệt, KTTT làm thay đổi tư duy phát triển kinh tế của một bộ phận nông dân, giúp người dân năng động, sáng tạo áp dụng KH-KT vào sản xuất, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, tạo thị trường tiêu thụ ổn định. KTTT còn góp phần hình thành những vùng sản xuất hàng hóa tập trung, tiêu biểu như vùng cam Cao Phong, bưởi Tân Lạc, gà Lạc Thủy, rau Lương Sơn...

Bên cạnh đó, phát triển KTTT đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm soát tốt dịch bệnh, tạo nền tảng cho sản xuất nông nghiệp bền vững. Chất thải nông nghiệp được chủ trang trại xử lý đảm bảo đúng tiêu chuẩn, nhờ vậy giảm thiểu ô nhiễm môi trường nông thôn. Ngoài ra, các trang trại đa số sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, có tem truy xuất nguồn gốc sản phẩm, liên kết sản xuất và tiêu thụ. Hàng hóa có chất lượng tốt, sức cạnh tranh cao trên thị trường trong và ngoài nước.

Theo Thông tư số 02, ngày 28/2/2020 của Bộ NN&PTNT các tiêu chí để được công nhận là trang trại hiện nay cao hơn nhiều so với TT 27. Vì vậy, số lượng trang trại trên địa bàn tỉnh giảm tương đối nhiều. Hiện, toàn tỉnh có 87 trang trại, trong đó có 28 trang trại trồng trọt, 29 trang trại chăn nuôi, 27 trang trại tổng hợp, 2 trang trại thủy sản và 1 trang trại lâm nghiệp. Lạc Thủy là huyện có số lượng trang trại nhiều nhất với 29 trang trại, Kim Bôi 16 trang trại; huyện Đà Bắc và Mai Châu không có trang trại nào đạt tiêu chuẩn theo Thông tư số 02/2020/TT-BNNPTNT.

Để kinh tế trang trại phát triển bền vững

Sự phát triển của KTTT đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn gắn với xây dựng NTM. Tuy nhiên, việc phát triển KTTT thời gian qua vẫn chưa tương xứng với tiềm năng đất đai, lao động... KTTT phát triển chưa ổn định, không đồng đều giữa các vùng, chưa gắn với quy hoạch các vùng sản xuất và công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản. Hiện nay, sản phẩm hàng hoá của các trang trại có quy mô ngày càng lớn, song thị trường tiêu thụ sản phẩm còn hạn chế. Đầu ra, giá nông sản vẫn là nỗi lo thường xuyên của các chủ trang trại. Tình trạng thiếu vốn khá phổ biến, nguồn vốn vay còn nhiều khó khăn nên các trang trại chủ yếu đầu tư phát triển theo chiều rộng, chưa đủ sức đầu tư theo chiều sâu. Thiếu sự gắn kết, liên kết giữa các trang trại với nhau và với các tổ chức kinh tế khác như liên kết vùng sản xuất, tiêu thụ, chế biến sản phẩm, học tập, hỗ trợ kinh nghiệm về quản lý, ứng dụng công nghệ, vốn...

Trình độ quản lý, chuyên môn của các trang trại còn nhiều hạn chế, phần lớn các chủ trang trại quen với mô hình sản xuất nhỏ, kỹ thuật sản xuất thấp, việc tổ chức sản xuất, kinh doanh, quản lý kinh tế chủ yếu theo kinh nghiệm, thiếu hiểu biết về thị trường. Phát triển KTTT còn gặp khó khăn do các yếu tố khách quan, mức độ rủi ro cao, phụ thuộc nhiều vào thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng, dịch bệnh...

Anh Nguyễn Văn Thắng, xóm Thung Dao Bắc, xã Tú Sơn (Kim Bôi) chia sẻ: Hiện, trang trại của gia đình tôi rộng hơn 4 ha, cây trồng chính là bưởi, cam, nhãn, sản xuất chủ yếu theo tiêu chuẩn VietGAP nên cần nhiều vốn để đầu tư. Vì vậy, tôi mong muốn các cấp, ngành tiếp tục tạo điều kiện để được vay vốn nhằm mở rộng quy mô sản xuất; có chính sách hỗ trợ trang trại từ khâu chọn giống, vật tư; tạo điều kiện cho các trang trại tham gia hội chợ quảng bá, giới thiệu sản phẩm.

Đồng chí Nguyễn Anh Quân, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT cho biết: Thời gian tới, để KTTT tiếp tục phát triển bền vững, T.Ư, tỉnh, huyện cần có thêm nhiều chính sách hỗ trợ cho các trang trại. Các cấp, ngành tổ chức các lớp bồi dưỡng về công tác quản lý, thiết kế quy hoạch trang trại, trao đổi, học tập kinh nghiệm, cách làm giàu từ phát triển KTTT cho không chỉ các chủ trang trại mà cho cả những người có nguyện vọng, khả năng trở thành các chủ trang trại trong tương lai. Nội dung bồi dưỡng cần định hướng về xu hướng phát triển của trang trại; chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc thúc đẩy phát triển KTTT. Đặc biệt là những kiến thức về công tác tổ chức quản lý, thiết kế quy hoạch, kỹ thuật sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm sau thu hoạch. Tổ chức chương trình bồi dưỡng, hướng dẫn kỹ thuật nông nghiệp cho lao động nông thôn, hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao ứng dụng công nghệ cho chủ trang trại nhằm tăng năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm.

Bên cạnh đó, tỉnh đẩy nhanh tiến độ chuyển giao KH-KT, đưa cơ giới hoá vào sản xuất, thực hiện CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn. Khuyến khích các hình thức liên kết, hợp tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp, trong đó, coi trọng liên kết giữa các trung tâm, viện nghiên cứu với các trang trại hạt nhân điển hình để nghiên cứu tạo ra những loại giống cây trồng, vật nuôi phù hợp, cho sản phẩm đem lại giá trị kinh tế cao. Miễn, giảm tiền thuê đất đối với các trang trại ở vùng sâu, xa, vùng cao, vùng đồi núi theo quy định của pháp luật; đối với các loại đất đai khi thuê đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá để trồng rừng, trồng cây lâu năm; các vùng có diện tích mặt nước tự nhiên chưa có đầu tư cải tạo vào mục đích nuôi trồng thuỷ sản. Các cấp, ngành tăng cường hỗ trợ KTTT phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa và tham gia vào chuỗi giá trị nông sản.


Thu Thủy

Các tin khác


Ký sự bản Mông


(HBĐT) - Sống giữa núi rừng Tây Bắc, người dân bản Mông vẫn luôn mạnh mẽ, kiên cường, với khát vọng vươn lên trở thành bản, làng văn minh dựa trên nền tảng truyền thống, là điểm đến hấp dẫn bạn bè phương xa. Bản Mông hôm nay đã khác, đã có những thứ tạo nên sợi dây níu chân người ở lại.
Bài 2 - Hiện thực hóa khát vọng "nảy mầm xanh trên đá”

Ký sự bản Mông

(HBĐT) - "Tôi có may mắn được đặt chân đến nhiều vùng đất, gặp gỡ nhiều con người thuộc nhiều dân tộc khác nhau. Ở mỗi nơi, cái tình của con người lại được thể hiện bằng những cách khác nhau, nhưng họ đều chung sự chân thành. Và ở bản Mông thuộc 2 xã Hang Kia, Pà Cò (Mai Châu) cũng vậy, đã lâu mới quay trở lại, vẫn những con người chân chất, hiền hòa. Bản Mông năm nào nay đã khoác lên mình "chiếc áo” mới của cơ sở hạ tầng khang trang, chất lượng cuộc sống được cải thiện, và hơn thế nữa là sự đoàn kết cộng đồng, tin tưởng vào Đảng, chính quyền của người Mông". Đó là lời tâm huyết từ một sỹ quan quân đội, người con của bản làng, Thiếu tá Hàng A Phứ, Chính trị viên phó Ban CHQS huyện Mai Châu.
Bài 1: "Sinh ra từ làng, phải góp sức cho làng!”

Mo Mường Hòa Bình hướng tới di sản văn hóa thế giới

(HBĐT) - Với những giá trị vô cùng đặc sắc, quý giá, nhưng mo Mường đang đứng trước nguy cơ mai một. Tỉnh đã triển khai các biện pháp bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu này và có những tín hiệu vui trên đường tới di sản văn hóa thế giới.
Bài 2 - Đường tới di sản thế giới

Mo Mường Hòa Bình hướng tới di sản văn hóa thế giới

(HBĐT) - Người Mường ở Việt Nam sống tập trung đông nhất tại tỉnh Hòa Bình. Hòa Bình cũng là cái nôi của nền "Văn hóa Hòa Bình” nổi tiếng, nơi có 63,3% dân số là dân tộc Mường. Suốt chiều dài lịch sử, người Mường đã sáng tạo, chắt lọc, lưu giữ kho tàng di sản văn hóa phong phú, đặc sắc. Trong đó, mo Mường là một hiện tượng văn hóa nổi trội, di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu, đặc biệt, quý giá, có giá trị tư tưởng, nhân văn sâu sắc.
Bài 1 - Khẳng định giá trị tiêu biểu, đặc biệt của mo Mường

Bức tranh cuộc sống mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số

(HBĐT) - Chất lượng cuộc sống người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) đã được nâng lên rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm, xuất hiện ngày càng nhiều hộ làm kinh tế giỏi. Tuy nhiên, để vùng đồng bào DTTS phát triển đồng đều, thu hẹp khoảng cách với vùng thuận lợi, thì cả hệ thống chính trị cần quyết liệt thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, nhằm hiện thực hóa mục tiêu giảm nghèo bền vững tại các xã vùng sâu, xa, vùng đặc biệt khó khăn (ĐBKK).
Bài 2 - Nâng cao chất lượng đời sống người dân 

Bức tranh cuộc sống mới vùng đồng bào dân tộc thiểu số

(HBĐT) - Là cửa ngõ vùng Tây Bắc, tỉnh Hòa Bình có dân số trên 83 vạn người, với 6 dân tộc chủ yếu là: Mường, Kinh, Thái, Tày, Dao, Mông… trong đó, dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm 74,31%. Trong những năm qua, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về quan tâm, hỗ trợ phát triển vùng đồng bào DTTS, tỉnh đã có nhiều giải pháp, hoạt động cụ thể nhằm nâng cao chất lượng đời sống vùng đồng bào DTTS, thúc đẩy KT - XH phát triển, góp phần đảm bảo ANCT - TTATXH địa phương.
Bài 1: Ưu tiên nguồn vốn đầu tư phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Xem các tin đã đưa ngày:
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục