(HBĐT) - Đến nhà vợ chồng người bạn chơi trong một chiều mùa thu trời khá oi bức, nắng bên ngoài dường như còn níu kéo khoảng trời mùa hạ, rát bỏng như độ giữa mùa. Mải mê, luyên thuyên chuyện trò quên khoắng là đã đến giờ trưa. Vợ bạn từ trong bếp vọng ra "Anh cứ ở lại ăn cơm với nhà em, chẳng mấy khi”. Cũng muốn từ chối nhưng không nỡ, sợ vợ chồng bạn nghĩ khách sáo. Thôi thì ở lại dùng bữa cơm vậy! ý nghĩ vừa mới thoáng chạy qua đầu thì bạn lại chêm vào "ở lại ăn cơm với nhà tao, hôm nay có món canh cua đồng tuyệt hảo đấy!”.

Canh-cua-đồng ba từ vang lên vừa lạ lẫm lại vừa quen thuộc. Tôi vốn sinh ra ở quê, là dân làm ruộng thứ thiệt. Ngày còn nhỏ, đến mùa gặt, bữa cơm nào cũng được mẹ nấu canh cua cho ăn. Còn lạ lẫm, chắc cũng dễ đến chục năm rồi tôi chưa ăn lại món canh cua đồng, kể từ khi rời quê lên phố học rồi làm việc. Năm tháng sinh viên, ở với lũ bạn, bữa cơm cũng chỉ đạm bạc quẩn quanh rau củ, ít miếng thịt cho qua ngày, qua tháng. Ra trường, đi làm bận rộn, làm bạn với cơm bụi, cơm văn phòng. Nhiều lúc ngẫm lại chuyện bạn tôi bây giờ lấy vợ sớm lại là một cái hay. Cái hay, cái được nhất là luôn có những bữa cơm gia đình tươm tất của vợ nấu cho mỗi ngày. Còn tôi, một gã trai độc thân, nay thích thì ra quán ăn, mai hứng lên thì chui vào bếp nấu một vài món đơn giản, chẳng theo trật tự, thói quen nào hết.

Tôi nhớ cua đồng nhiều, nhất là vào mùa gặt, khi cả cánh đồng bắt đầu ruộm vàng như một tấm thảm vàng óng ánh tuyệt đẹp. Với lũ trẻ con, cứ đến mùa gặt lại háo hức, chẳng phải giúp đỡ bố mẹ gặt hái lúa má gì mà là thỏa thú bắt cua đồng. Đứa cầm giỏ tre, đứa lại dùng xô nhựa, cắp nách bên hông, chờ mảnh ruộng nào gặt xong liền sà xuống như một lũ chim sẻ háu ăn ríu rít. Chỉ loanh quanh một chỗ cũng có thể bắt gần chục chú cua đồng béo múp míp. Thú nhất vẫn là những hôm mưa mới xong, mát nước, cua bò ra lổm ngổm nhiều vô kể, chỉ chờ có thế, chúng tôi nhanh chóng tóm gọn vào giỏ.

Nhưng lũ cua chỉ "dại” trong vài ngày đầu, những ngày sau, chúng rất khôn. Chỉ cần nghe tiếng động là chúng tá hỏa chui vào trong lãnh địa của mình (thường là những hốc rạ sâu hun hút ngay bờ ruộng). Cái khó ló cái khôn, chúng tôi mang theo dao cùn phá vỡ lãnh địa của chúng. Trong đám trẻ ngày xưa, tôi là đứa lười, chẳng chuẩn bị dao cùn mà dùng tay không bắt cua. Tức là nhằm cái lãnh địa của chúng tôi cứ thọc tay thật sâu, cho đến khi tóm được chúng thì thôi. Đổi lại cho sự lười biếng của tôi là bàn tay xước xát vì va chạm vào đất cứng, sợ xanh mặt khi vô tình thò phải rắn nước. Thật hú hồn!

Cuối buổi, mặt đứa nào đứa nấy đều nhọ nhem bùn đất nhưng đều hân hoan rạng ngời cùng giỏ cua đầy ú ụ. Thường thì một phần ba số cua mẹ tôi chế biến nấu canh còn lại rang giòn lên. Có khi chiến lợi phẩm được giao quyền cho bọn trẻ tự chế biến. Chúng tôi phân công nhau kiếm củi, xẻ mai cua ra xiên qua thân tre và bắt đầu nướng. Bữa tiệc được tiến hành trên bờ ruộng, người lớn đi ngang đôi khi cũng góp vui, nhâm nhi một vài chú cua béo múp. Chỉ trong chốc lát, cua chuyển màu đỏ, vàng rộm, một mùi thơm bốc lên tan vào hương lúa đồng mênh mang.

Lan man chuyện cua mà quên mất chính là món canh cua. Canh cua đồng có thể nấu với bất cứ loại rau nào: rau lang, muống, ngót hay mồng tơi. Tôi nhớ nhất trong bữa ăn là câu nói của bố. "ăn canh cua mà thiếu cà pháo muối thì chất lượng giảm đi phân nửa”. Mà đúng thế thật, cảm giác ăn một ngụm canh cua rồi cắn lấy một miếng cà giòn giòn chua chua thích lắm. Mẹ tôi tếu táo rằng, chúng làm hao biết bao nhiêu là cơm. Lúc nào bữa cơm có canh cua đồng là tôi ăn cành hông. Bữa ăn nhà bạn có canh cua đồng cũng thêm bát cà pháo muối rất ngon nhưng công bằng mà nói, tôi vẫn chưa thấy ngon bằng bát canh hồi xưa tôi ăn của mẹ. Cũng có thể khi xưa nghèo đói nên tôi thấy ăn ngon chăng? Cũng có thể do tôi quen với khẩu vị của mẹ nấu hàng ngày.

Vợ bạn bảo thực ra bây giờ ở phố, cua đồng cũng được bầy bán nhiều nhưng cua đồng từ quê lên rất hiếm, đi chợ thân quen, kiếm được mối mới mua được cua đồng chính gốc. Sau bữa ăn nhà bạn, tôi gọi điện về cho mẹ, nửa đùa, nửa thật rằng đang thèm canh cua đồng lắm! Mẹ tôi bảo cua đồng bây giờ ở quê rất hiếm bởi các hóa chất con người sử dụng như thuốc trừ cỏ, trừ sâu… Tự dưng tim tôi nghèn nghẹn. Gã trai qua tuổi băm, nghe mẹ nói xong mà xót xa ở trong lòng. Với tôi, cua đồng mùa gặt là một phần ký ức không thể xa rời. Nó là loài vật bé thôi nhưng sao mà thấy thiêng liêng và vô giá lắm! Trong giấc mơ thị thành thi thoảng vẫn chen ngang giấc mơ quê mùa có bát canh cua thân thuộc đến nao lòng!

       Cao Văn Quyền

 (Bưu điện trung tâm 3, 47,Đặng Tiến Đông, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội)

Các tin khác

Không có hình ảnh
Không có hình ảnh
Không có hình ảnh
Không có hình ảnh

Thương chiếc đèn lồng thủ công

(HBĐT) - Một mùa Trung thu nữa lại về. Bước ra phố trong đêm, tôi choáng ngợp vì ánh sáng lung linh của những chiếc đèn lồng. Hai bên vỉa hè, người người bày biện gian hàng bánh Trung thu nhan nhản. Trẻ con thành thị tụm năm, tụm bảy xách đèn lồng điện tử nói cười nhốn nháo. Không khí Trung thu cũng như thuở nào nhưng sao nó nhạt nhẽo, hững hờ quá đỗi!

Yêu thương bình dị

(HBĐT) - Sáng thức giấc gặp dòng sông và mặt trời trước mặt, dãy núi và vầng trăng sau lưng. Chiều ngoảnh mặt lại gặp mặt trời, dãy núi, dòng sông và ánh trăng. Mấy mươi năm như vậy tưởng như đã quá quen thân, tưởng như không còn gì mới mẻ để ngắm nghía và trầm trồ. ấy vậy mà không dễ để khỏi thốt ra lời yêu thương bởi lẽ yêu thương được nuôi dưỡng từ những điều quen thân tưởng như đã trở thành bình dị ấy.

Vẫn còn những mùa gió

(HBĐT) - Đang yên đang lành thì được lệnh của bác trưởng họ: "Về có việc gấp. Nhà bác có biến”. Tức tốc về. Nhà yên ắng, chẳng có việc gì. Hàng tre bên chái nhà vẫn rì rào khúc hát ngàn năm: bình yên như chưa bao giờ giông gió, nắng mưa. Chỉ lạ là vợ chồng con trưởng bác không ở nhà. Anh Thiều đi vắng đã đành, đằng này, chị Len cũng không có mặt.

Nỗi đau mang tên chất độc da cam dioxin

(HBĐT) - Sinh ra trong một gia đình thuần nông, ông bà đến với nhau sau cuộc chiến tranh chống Mỹ. Ngày ấy ông là lính chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị năm 1972. Khi rời quân ngũ ông trở về với một cánh tay đã mất. Bà là cô thôn nữ liền đem lòng yêu anh lính. Tình yêu của họ cũng đơn sơ, giản dị, mộc mạc như cái tên của ông bà. Ông Binh, bà Nết.