(HBĐT) - Thời gian qua, việc giao đất, cho thuê rừng, giao khoán đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho chủ rừng trên địa bàn tỉnh được coi là chủ trương đúng đắn giúp cho rừng có chủ thực sự. Tuy nhiên, việc giao đất, khoán rừng vẫn còn bất cập. ở một số nơi còn tình trạng tranh chấp về quyền sử dụng đất rừng. Vấn đề đặt ra là làm sao để gắn giao đất với quản lý rừng bền vững.


Công ty Lâm nghiệp Hoà Bình ươm cây keo giống phục vụ kế hoạch trồng rừng 2017.

Thực trạng việc giao đất, giao rừng

Thực hiện Nghị định số 02/NĐ-CP ngày 15/1/1994 của Chính phủ ban hành quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 548, ngày 29/11/1999 quy định hướng dẫn về giao đất, khoán rừng. Quán triệt chủ trương mỗi mảnh đất, mảnh rừng đều có chủ, từ năm 1994 - 1999, Chi cục Kiểm lâm, trực tiếp là Hạt Kiểm lâm các huyện, thành phố đã phối hợp với cơ quan địa chính hoàn thành cơ bản công tác giao đất, giao rừng, thực chất là giao đất lâm nghiệp có rừng trên địa bàn toàn tỉnh. Kết quả đã giao tới cá nhân, hộ gia đình, thôn và một số tổ chức, doanh nghiệp đạt trên 80% diện tích đất lâm nghiệp, diện tích còn lại do UBND các xã quản lý.

Thực hiện Quyết định số 672, ngày 26/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/10.000, xét duyệt cấp giấy CNQSD đất lâm nghiệp, UBND tỉnh có Chỉ thị số 04 ngày 17/4/2013 về việc tập trung chỉ đạo và tăng cường các biện pháp thực hiện việc cấp giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trong năm 2013. Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp toàn tỉnh là 340.138,26 ha, trong đó, diện tích đất có rừng 227.710,65 ha, diện tích đất không có rừng 112.427,61 ha. Tổng diện tích đất lâm nghiệp đã giao quyền sử dụng đất 217.245,95 ha, trong đó BQL rừng đặc dụng, vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên 40.531,17 ha; BQL rừng phòng hộ 2.410,94 ha; Công ty TNHH MTV lâm nghiệp 11.197,70 ha; các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh 2.144,15 ha; các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài 68,13 ha; hộ gia đình, cá nhân 143.003,63 ha; cộng đồng dân cư thôn 48.771,19 ha; các đơn vị lực lượng vũ trang 615,14 ha; UBND xã 2.074,17 ha và các tổ chức khác 383,86 ha. Tổng diện tích đất lâm nghiệp chưa giao quyền sử dụng đất 96.225,56 ha do UBND xã quản lý.

Hiệu quả sau khi giao đất

Trên thực tế, sau khi giao khoán đất và cấp giấy CNQSD đất lâm nghiệp cho chủ rừng, các chủ rừng đã có ý thức hơn trong việc bảo vệ đầu tư chăm sóc rừng. Hiện tượng phá rừng, khai thác rừng, lâm sản, lấn chiếm chuyển đổi mục đích rừng và đất lâm nghiệp đã giảm nhiều. ở nhiều nơi sau khi tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao đất lâm nghiệp đã tổ chức kinh doanh và có thu nhập đáng kể từ rừng, đặc biệt là rừng trồng do chủ động xác định được cơ cấu cây trồng thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai ở nhiều địa phương. Người dân đã tự bỏ vốn đầu tư trồng rừng sản xuất, trong đó cây keo lai khẳng định được giá trị kinh tế với thu nhập bình quân trên 60 triệu đồng/ha. Bên cạnh đó đã hình thành nhiều trang trại nông, lâm nghiệp, mô hình kinh tế hộ gia đình có hiệu quả kinh tế cao ở các huyện Kim Bôi, Lạc Thuỷ...

Công tác trồng rừng được hiệu quả hơn với tỉ lệ thành rừng cao, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân, góp phần xoá đói, giảm nghèo, từng bước góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn. Trong tỉnh đã xuất hiện một bộ phận dân cư giàu lên từ nghề rừng, mở ra hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường tiêu thụ. Đặc biệt nhiều khu rừng giao cho cộng đồng quản lý đã phát huy được tính tích cực của văn hoá làng xã từ lâu đời nên được bảo vệ rất tốt. Một số chủ rừng sau khi được thuê rừng đã chủ động kế hoạch sản xuất, vì vậy có nhiều hoạt động đầu tư thúc đẩy phát triển nghề rừng. Bên cạnh hiệu quả về kinh tế, hoạt động trồng rừng, bảo vệ rừng góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, chống xói mòn đất. Đến nay, tỷ lệ độ che phủ rừng toàn tỉnh đạt trên 51%.

 


Người dân xã Tu Lý (Đà Bắc) chăm sóc rừng trồng năm thứ 2.

Vẫn còn những tồn tại

Thời gian qua, trên địa bàn tỉnh xảy ra một vài tranh chấp về quyền sử dụng đất lâm nghiệp giữa các hộ gia đình và tổ chức ở các xã Dân Hạ, Dân Hoà (Kỳ Sơn) và xã Tân Minh (Đà Bắc). Nguyên nhân là do hiểu biết pháp luật của người dân tham gia bảo vệ, phát triển rừng hạn chế, công tác giáo dục, tuyên truyền chính sách, pháp luật chưa thường xuyên, hiệu quả thấp. Ngoài ra, trình độ của cán bộ quản lý lâm nghiệp ở một số đơn vị, địa phương còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới...

Theo ý kiến của Chi cục trưởng, Chi cục Kiểm lâm Lê Minh Thủy, đến nay tỉnh mới tiến hành giao đất có rừng chứ chưa giao đất gắn với giao rừng nên chưa có căn cứ làm thước đo hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng; không thể định lượng hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng để áp dụng các hình thức khen thưởng hay xử phạt phù hợp. Trên thực tế, tỉnh mới thực hiện giao 661 ha rừng cho 2 đơn vị. Cụ thể, giao 51 ha rừng phòng hộ cho Công ty Mai Bình tại xã Cun Pheo (Mai Châu) và giao 610 ha rừng sản xuất cho Công ty Phú Thịnh tại xã Tân Minh (Đà Bắc). Hầu hết các khu rừng giao cho cộng đồng là rừng tự nhiên sau khai thác, trữ lượng rừng thấp. Thường áp dụng phương pháp khoanh nuôi tái sinh, thiếu nguồn vốn đầu tư, thực hiện trồng bổ sung nâng cao chất lượng rừng. Diện tích rừng tự nhiên được giao cho hộ gia đình hầu như không mất nhưng kém phát triển do các hộ ít quan tâm. Lý do chủ yếu từ việc hưởng lợi từ rừng còn ít, rừng chưa mang lại hiệu quả về kinh tế cải thiện đời sống. Giao đất, khoán rừng theo Nghị định số 02/CP trên địa bàn tỉnh nhiều nơi chưa cụ thể, chưa chặt chẽ. Còn hiện tượng khó nhận biết được vị trí, ranh giới diện tích rừng được giao. Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, khó có điều kiện, khả năng đầu tư KHKT và công nghệ tiên tiến, áp dụng cơ giới vào sản xuất.

Trao đổi về vấn đề này, đồng chí Nguyễn Văn Dũng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho rằng: Để quản lý và bảo vệ rừng cần thiết phải có chủ rừng thực sự. Do đó, để quản lý đất rừng hiệu quả cần xác định rừng sẽ giao cho ai. Chủ rừng được giao phải có năng lực quản lý, sản xuất và phải là người lao động trực tiếp. Giao đất, giao rừng phải đáp ứng chức năng mới là quản lý rừng bền vững. Vì vậy, cần làm sao để người dân làm chủ thực sự của rừng và đừng biến họ là lao động làm thuê. Nhà nước cần xây dựng chính sách khuyến khích tích tụ đất đai, liên doanh liên kết, hình thành các tổ chức sản xuất liên kết theo chuỗi trong lâm nghiệp. Đó là giải pháp quan trọng nhất để thu hút vốn đầu tư xã hội vào trồng rừng sản xuất.

 

                                                                      Đinh Thắng

Các tin khác


Tạo nền tảng thuận lợi thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn

(HBĐT) - Đơn giản hóa thủ tục hành chính, áp dụng linh hoạt các chính sách ưu đãi hiện hành, xác định rõ thế mạnh của từng vùng gắn với phát triển các sản phẩm chủ lực, lựa chọn chương trình ưu tiên để kêu gọi doanh nghiệp đầu tư... Đó là những giải pháp quan trọng mà tỉnh ta đang tích cực triển khai với quyết tâm tạo nền tảng thuận lợi thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn (NNNT).

Để Luật Hợp tác xã năm 2012 thực sự đi vào cuộc sống

(HBĐT) - Mô hình tổ chức HTX kiểu mới được xây dựng trong Luật năm 2012 là tổ chức do các thành viên tự nguyện hợp tác nhằm tương trợ lẫn nhau, đáp ứng nhu cầu chung về sản phẩm, dịch vụ cho chính mình.

Chuẩn hóa phương tiện chở khách đường thuỷ - đòi hỏi bức thiết trong phát triển du lịch vùng hồ Hòa Bình

(HBĐT) - Với chiều dài 70 km, hồ Hòa Bình có dung tích trên 9 tỷ m3 nước với nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú. Trong hồ có 47 đảo lớn nhỏ. Hai bên hồ là những cánh rừng núi ngút ngàn, thơ mộng, hấp dẫn với nhiều điểm thăm quan tâm linh, văn hoá, du lịch nổi tiếng như đền Bờ, động Thác Bờ, vịnh Ngòi Hoa, động Hoa Tiên... hàng năm thu hút hàng trăm nghìn lượt khách tới thăm quan và làm lễ. Đặc biệt, tỉnh ta đang hướng đến mục tiêu năm 2020, Khu du lịch hồ Hòa Bình cơ bản đáp ứng các tiêu chí và trở thành Khu du lịch quốc gia. Vì vậy, chuẩn hóa phương tiện chở khách đường thuỷ nội địa là đòi hỏi hết sức bức thiết trong phát triển du lịch trên vùng hồ Hòa Bình .

Vướng mắc nhiều thủ tục

(HBĐT) - Nghị định số 221 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và mới đây nhất là Nghị định số 136 ngày 9/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221 được coi là hành lang pháp lý để các ngành chức năng đưa đối tượng nghiện ma túy vào các trung tâm giáo dục, chữa bệnh, lao động xã hội. Tuy nhiên, sau gần 2 năm triển khai, các địa phương vẫn gặp nhiều vướng mắc.

Nóng tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

(HBĐT) - Hòa Bình là 1 trong 10 tỉnh, thành phố có tỷ lệ chênh lệch giới tính khi sinh cao nhất cả nước. Theo số liệu thống kê của Chi cục DS/KHHGĐ, năm 2016, tỷ số giới tính khi sinh của tỉnh ta là 115,3 nam/100 nữ. 6 tháng đầu năm 2017, tỷ số giới tính khi sinh là 116,4 nam/100 nữ. Tỷ lệ chênh lệch giới tính khi sinh trên địa bàn tỉnh ở mức cao hơn trung bình cả nước.

Khó khăn trong phát triển tổ chức Đoàn ở doanh nghiệp ngoài Nhà nước

(HBĐT) - Trong tổng số hơn 1.600 doanh nghiệp ngoài Nhà nước trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định, mới có 17 chi đoàn thanh niên được thành lập với hơn 1.050 đoàn viên. Trong số đó lại có những chi đoàn đang đứng trước nguy cơ giải thể nếu không có chiến lược đầu tư nâng cao kỹ năng cho cán bộ Đoàn hay có giải pháp đoàn kết, tập hợp ĐV -TN một cách hiệu quả…