Truyện ngắn Bùi Huy


Lần nào anh em chúng tôi than thở vì làm hỏng hay thất bại một việc gì đó, bố tôi đều im lặng một lúc lâu, rồi hạ giọng như một tiếng thở dài:

- Đấng nam nhi, đừng thế. Thất bại thì làm lại gì mà ủ rũ thế. Chán. Không đáng mặt. Xem bà kia kìa...

Bị ông mắng chúng tôi không thấy đau, nhưng lại thêm một lần xót lòng về bà. Bà đã mất bao năm rồi, vậy mà lúc nào cũng như hiện hữu trong cuộc sống gia đình chúng tôi, nhất là bố. Nếu khóc được chắc ông cũng òa lên như đứa trẻ con khi nhắc về mẹ...

Người phụ nữ đã khuất mà chúng tôi gọi là bà nội không phải mẹ đẻ của ông. Bố mẹ mất sớm, bố tôi lớn lên hồn nhiên như cây cỏ. Nhưng do tính hiền lành, chịu khó và hay lam hay làm, bố tôi vẫn trụ được trong chính ngôi nhà mà cha mẹ để lại. Bố dành thời gian để tham gia lớp bình dân học vụ nên cũng là người có trình độ ở xóm. Điều phúc cho bố tôi, khi tầm 16 - 17 tuổi bố gặp bà, người mà sau này cả cuộc đời bố chịu ơn. Bà là người xóm bên, chuyên bán thuốc nam, ngược xuôi đủ cả. Bố kể lần đó ông ốm sốt li bì mấy ngày liền, miệng đắng ngắt, môi phồng rộp, chả dậy nổi nấu nồi cháo. Như là duyên tiền định, hôm đấy bà (gọi là bà Phúc) vào khu vườn nhà kiếm mấy nắm lá thuốc gia truyền. Gọi mãi không được, bà đẩy cửa bước vào. Mắt lim dim ông mấp máy môi: "nước... nước...”. Bà hoảng hốt nhưng cũng nhanh chóng nhận ra tình huống nguy kịch của ông. Pha cốc nước ấm cho ông uống, lấy khăn đắp trán cho ông, bà chạy ra trạm y tế cách đó 2 km. Trên đường bà gọi mấy nhà ở mé đồi, mé núi.  Đường đồi rừng, gọi là mấy quăng dao thôi nhưng mà đâu có nhanh. Lúc làm xong các phần việc của một cán bộ y tế, anh y sĩ mới nói:

- May có bà báo kịp thời không thì chả biết chuyện gì sẽ xảy ra.

Giờ thì hàng xóm mới chạy đến từ các mé đồi. Tiếng một bà già:

- Cháu có phúc lắm mới gặp được thầy, được thuốc. Lần sau có gì cố mà hú gọi mọi người nhé. Khổ, một thân một mình. Về lâu dài chuyển gần các hộ khác mà dựng nhà. Xa cách chả biết thế nào mà lần...

Uống đủ thuốc bố tôi tạm hồi tỉnh, dựa lưng vào vách nứa nhìn bâng quơ xung quanh. Bà Phúc, đầu vấn khăn thổ cẩm màu lam đang lúi húi đun cho nồi cháo. Gương mặt bà hồng hào, có thể do nhai trầu, có thể do ánh lửa, nhưng đôi mắt thì sáng và ấm lạ. Dáng người đậm, bàn chân to, toát lên nét chung của người phụ nữ miền rừng. Lúc bà hút thuốc lào, tiếng rít của nõ điếu khiến người đối diện biết đây là người có sức vóc, khỏe mạnh... Bưng bát cháo loãng nóng hổi do người phụ nữ xóm bên đưa cho, bố tôi bỗng như thấy hình bóng của mẹ năm nào...

Ngày hôm sau, trên đường vào vườn rừng hái thuốc, bà ghé qua. Lần này bà còn xách theo 2 con gà giò, ít đậu xanh. Đứa con gái út của bà gần bằng tuổi ông được sai đi làm gà để đặt nồi cháo. Còn bà đun cho bố tôi một siêu nước thuốc: "Lá thuốc này vừa làm mát gan, thận, vừa giúp hồi phục sức nhanh”. Tiếng con gái bà lanh lảnh phía chái bếp: "Mẹ ơi... có cho bộ lòng vào nồi cháo không vậy?”. "Rõ đảm chưa. Để ngoài để lúc nấu bát canh miến thôi".

Nhà ông lâu lắm mới có nhiều tiếng người như vậy... Từ những ngày đó, lòng bố tôi đỡ nặng trĩu vì cảnh côi cút. Gặp nhiều thành quen thân, bố tôi biết thêm gia cảnh của bà. Ông nhà mất sớm, bà ở vậy nuôi 2 con gái nên người. Bà cấy lúa, trồng khoai, dệt thổ cẩm, bốc thuốc nam... việc nào đến tay bà cũng đều đâu ra đấy. Hồi ông ấy mất, nhà chẳng có của giả gì đáng giá, giờ bà cũng tạo được ngôi nhà 4 gian lợp ngói, trâu bò đủ cả. Người miền núi thế cũng được gọi là có "của ăn của để”. Bà bốc thuốc cũng để làm phúc thôi. Có nhà khó khăn bà chỉ lấy chút ít gọi là. Họ sau này đi lại thành như người nhà...

Bố tôi như trở thành người con của gia đình bà lúc nào không hay. Nhà 2 bên, việc giỗ, việc cầu mát nhà đều là việc chung. Hai con gái bà Phúc luôn gọi bố tôi là anh cả. Năm bố tôi lập gia đình... đúng là gian nan. Ông bà ngoại tôi thì không sao, họ thương hoàn cảnh, tư chất của bố, nhưng họ hàng thì căng quan điểm: "Không môn đăng hạ đối, nhà nó có "dớp” đoản thọ”. Bà tôi suốt năm ròng đi lại ở vai đại diện nhà trai, với tài thuyết khách, họ hàng phía mẹ tôi cũng xiêu lòng. Sau lần đó bố tôi chính thức gọi bà Phúc là "mẹ”. Rồi chúng tôi ra đời, bà cũng ngấp nghé tuổi 60. Chợ búa giảm dần để giữ gìn sức khỏe (vì bà khá nghe lời bố). Các con gái cũng lấy chồng sinh con, thành ra bà bận tíu tít. Lúc chạy chăm cháu nội, lúc chạy chăm cháu ngoại. Mẹ tôi cũng được bà truyền cho mấy bài thuốc nam khá công dụng, cho ít cây giống thuốc nam quý để gây vườn.

Bố kể, dạo mẹ tôi ở cữ bà ở hẳn bên này cả tháng trời để chăm mẹ, tìm lá tắm cho bà đẻ, cho cháu bé. Bà là người phụ nữ có tuổi đầu tiên của vùng dám cho con dâu bỏ những kiêng khem của ngày xưa, nên sau đẻ mẹ tôi nhanh chóng hồi phục sức khỏe. Bà nhìn mẹ tôi nhắc chuyện: Ngày xưa mẹ nhìn các bà đẻ uể oải nhai cơm không với muối dổi rang khô, chả có bát canh nào mà thấy xót lòng. Các con giờ "cách tân” đi cho đỡ khổ... Hai anh em chúng tôi lần lượt ra đời dưới vòng tay che chở của bà. Ai cũng được bà chăm bẵm kỹ lúc đầu đời. Sau này mẹ tôi kể rằng: "Nhìn bên ngoài không ai biết được bà chỉ là mẹ nuôi của bố. Ánh mắt bố các con rạng ngời khi có bà ở bên”.

Bà Phúc phúc hậu như vậy đấy. Nhưng bà không gặp may, khi chúng tôi vào THPT thì bà mất do một lần vào rừng bị rắn độc cắn. Bố tôi khóc như đứa trẻ, xin phép dòng họ bên ấy được khăn xô, chống gậy đưa bà về mường ma như lễ nghĩa của người con trai đối với mẹ. Mất cả năm trời bố tôi thất thần như lạc vào một phương trời nào đó. Bố tâm sự với chúng tôi: Đời bố có 2 niềm vui lớn, 2 động lực lớn để phấn đấu đó là khi gặp bà và khi cưới mẹ các con. Hai người phụ nữ đã "cứu sống” cuộc đời bố... Bố hay trải lòng rằng chưa dám tin rằng bà đã khuất núi. Vì đâu đó luôn như thấy dấu chân, dấu tay đảm của bà. Mỗi khi có đám mây trắng bay ngang vườn nhà, bố có cảm giác như có ánh nhìn của bà: ấm áp, chở che.

Các tin khác


Vì ta tin nhau

Hoài thuộc vào loại xinh gái nhất cơ quan theo như sự bình chọn của gần 30 chị em. Nhưng trớ trêu thay, cô lại phải qua "một lần đò” đầy đau khổ với người chồng vũ phu, bội bạc. Gần 40 tuổi, Hoài bắt đầu lại tất cả bằng chính đôi chân của mình. Không còn nhà lầu, xe hơi, sáng sáng cô đi làm bằng xe máy, mặc những bộ váy giản dị, dùng mỹ phẩm bình thường nhưng nụ cười luôn rạng rỡ trên môi.

“Rau sạch”

Càng gần đến Tết Nguyên đán, cùng với tình trạng rét đậm, rét hại kéo dài nên nhu cầu rau, củ, quả ở vùng "rừng xanh, núi đỏ” ngày càng tăng cao.

Anh vẫn hành quân

Cứ dịp tháng 12, khi về quê lại được nghe chú họ thổi sáo bài "Anh vẫn hành quân”(nhạc Huy Du, lời thơ Trần Hữu Thung). Chú không phải nghệ sĩ chuyên nghiệp, tuổi cũng không còn trẻ nhưng tiếng sáo rất khí thế như có hồn, bay bổng và vi vút đến không ngờ. Lúc mạnh mẽ trào dâng như đoàn quân băng băng về phía trước, lúc lại nhẹ nhàng, tha thướt, trữ tình như câu hát, tiếng sáo hay câu ca dao mộc mạc bay lượn trên những cánh đồng, vạt ngô xanh nơi đồng bãi quê nhà… "Anh vẫn hành quân/ Trên đường ra chiến dịch/ Mé đồi quê anh bước/ Trăng non ló đỉnh rừng/ Anh vẫn hành quân/ Lưng đèo qua bãi suối/ Súng ngang đầu anh gối/ Anh qua khắp tuyến đường…

Dòng thương nhớ ngày đông

Không chỉ là một dòng sông thông thường, dòng chảy thân thương ấy dường như từ lâu đã thành dáng, thành vẻ và thành hồn của cả mảnh đất và con người nơi đây. Một lúc nào đó đầu Đông, liệu rằng có ai là người con của vùng đất này ở nơi xa mà chẳng nhớ, chẳng thương và bâng khuâng nghĩ tới mảnh đất nuôi mình khôn lớn với con sông Đà mềm mại chia đôi bờ.

Câu ví Mường xanh mãi

Đại đội 9 hành quân từ Mãn Đức Tân Lạc lên đến Lũng Vân đã 4 giờ chiều. Đường xa, đèo dốc chênh vênh nhưng ai cũng vui khi nhìn núi đồi nối nhau, bồng bềnh mây ôm đẹp đến quên mệt mỏi. Chúng tôi tìm được một bãi cỏ rộng để cắm trại, cả đơn vị tập trung đi kiếm củi, nổi lửa nấu cơm. Các mẹ, các đoàn thể ở Lũng Vân với tấm lòng thơm thảo, yêu quý bộ đội Cụ Hồ thời chiến, đã mang cho chúng tôi rau xanh, chuối tây... cả ngày hôm sau chúng tôi ăn không hết.

Xem các tin đã đưa ngày:
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục