(HBĐT) - Phát triển kinh tế xanh là bước đi bền vững, xu hướng tất yếu của nền kinh tế hiện tại và trong tương lai. Xu thế này đã và đang được chứng minh qua thực tế của các nước tiên tiến trên thế giới và một số tỉnh, thành phố trong nước. Lần đầu định hướng, mục tiêu phát triển xanh - xanh nữa là quan điểm xuyên suốt, bao trùm trên tất cả các lĩnh vực trong những năm tới được xác định cụ thể trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025.

 


Nông dân xã Phú Thành (Lạc Thủy) sản xuất chè hàng hóa theo tiêu chuẩn an toàn.

Nhiều năm trước, cũng như nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước, do những yếu tố khách quan, lịch sử, các hoạt động phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh ít được chú trọng tới bảo vệ môi trường (BVMT). Và thực tế hoạt động phát triển công nghiệp, khai thác tài nguyên, cũng như ở nhiều lĩnh vực khác đã gây ô nhiễm môi trường (ÔNMT), ảnh hướng lớn đến đời sống của Nhân dân. Có thời điểm, tỉnh phát triển có nhiều nhà máy xi măng lò đứng, công suất khoảng 8 vạn tấn/năm, người dân, người lao động phải chịu đựng khói bụi, tiếng ồn, sau nhiều năm khai thác đã phải khai tử hoặc chuyển đổi công nghệ. Nhà máy mía đường được quy hoạch và xây dựng ở trong lòng thị xã Hòa Bình (nay là TP Hoà Bình) năm nào cũng đã phải di dời ra khỏi địa bàn và đến nay không còn hoạt động. Các cơ sở sản sản xuất gạch nung thủ công cũng dần bị loại bỏ. Nhiều cơ sở sản xuất gây ÔNMT tồn tại không được bao lâu vì các quy định của Nhà nước, phản ứng của người dân. Gần đây, các hoạt động khai thác khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất giấy… được biết đến phát sinh nhiều nguy hại, ÔNMT, ám ảnh người dân, trong khi đó đóng góp không nhiều, lại phá hoại hạ tầng giao thông…

Những năm gần đây, kinh tế xanh đang là xu thế phát triển tất yếu được đề cập đến trong quá trình phát triển nhiều quốc gia, địa phương trong nước. Kinh tế xanh được hiểu là sự kết hợp giữa 3 yếu tố: kinh tế - xã hội - môi trường. Kinh tế xanh có tính chất bền vững, là những hoạt động tạo ra lợi nhuận hoặc giá trị có ích lợi, hướng đến phát triển cuộc sống của cộng đồng xã hội, con người. 

Nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước đã thành công khi thực hiện phát triển xanh. Như tỉnh Quảng Ninh đi đầu trong quy hoạch, đã có những thành công lớn trong việc chuyển đổi mô hình phát triển từ "nâu” sang "xanh”, được nhiều địa phương học tập.

Hòa Bình là tiếp giáp với Thủ đô và nằm trong quy hoạch phát triển vùng Thủ đô Hà Nội. Tỉnh có cảnh quan, môi trường, bản sắc văn hóa còn "sạch”, chưa bị tác động nhiều bởi các hoạt động phát triển kinh tế. Dưới quan điểm của các doanh nghiệp, nhà đầu tư, cũng như các chuyên gia, dư địa phát triển của tỉnh còn nhiều nếu biết tận dụng và khai thác những lợi thế này. 

Nghị quyết, các chương trình hành động, các đề án thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII đã thể hiện quan điểm xuyên suốt và nhất quán là thực hiện phát triển xanh, xanh và xanh hơn nữa để mỗi người dân thụ hưởng thành quả của đổi mới. Quan điểm này đang được Tỉnh ủy, Thường trực Tỉnh ủy và đồng chí Ngô Văn Tuấn, Uỷ viên BCH T.Ư Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Tỉnh khẩn trương lập quy hoạch tỉnh tầm nhìn đến năm 2050, đặt mục tiêu trở thành tỉnh hàng đầu khu vực Tây Bắc, nguyên tắc lập quy hoạch phải bảo đảm phù hợp với định hướng phát triển của tỉnh là xanh, bền vững; phát triển công nghiệp gắn với phát triển đô thị, dịch vụ; phát triển nông nghiệp cung cấp các sản phẩm nông nghiệp phục vụ Thủ đô Hà Nội; du lịch là mũi nhọn, tập trung phát triển khu du lịch quốc gia hồ Hòa Bình, suối nước khoáng nóng Kim Bôi; giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo; xây dựng cơ chế thu hút đầu tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ứng dụng công nghệ thông tin… Các định hướng, nguyên tắc phát triển xanh bền vững được nghị quyết, các chương trình hành động xác định quan điểm phát triển bao trùm trên tất cả lĩnh vực phát triển KT-XH, QP-AN. 

Tỉnh xác định rõ mục tiêu và hướng đi trong những năm tới, đó là: Hoàn thiện kết cấu hạ tầng KT-XH đồng bộ, hiện đại, trọng tâm là ưu tiên phát triển hạ tầng giao thông đường bộ và hạ tầng kỹ thuật BVMT, ứng phó với biến đổi khí hậu. Về phát triển đô thị theo hướng đô thị sinh thái, thu hẹp hoạt động khai thác tài nguyên đá để tạo không gian sinh thái cho phát triển đô thị; tăng cường việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. 

Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, gắn kết chặt chẽ với công nghiệp chế biến, du lịch, thị trường tiêu thụ, BVMT; đẩy mạnh ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học và nông nghiệp hữu cơ, sản xuất sạch, an toàn, cung cấp sản phẩm cho vùng Thủ đô Hà Nội. Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, thân thiện với môi trường, khuyến khích phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp chế biến nông sản. Phát triển du lịch phải gắn mới mục tiêu giữ gìn và BVMT sinh thái với phương châm phát triển là: Xanh - xanh hơn - xanh hơn nữa; đa dạng các sản phẩm du lịch gắn với phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương, trọng tâm là bảo vệ cảnh quan phát triển du lịch hồ Hòa Bình; phát triển du lịch văn hóa, nghỉ dưỡng, du lịch thể thao giải trí, du lịch cộng đồng. Đối với thu hút đầu tư chú trọng thu hút các dự án có hàm lượng khoa học công nghệ cao, ít tác động tới môi trường. Ưu tiên, khuyến khích các dự án có công nghệ, thiết bị tiên tiến, hiện đại để thu hồi tối đa khoáng sản trong quá trình khai thác, chế biến khoáng sản và đảm bảo thân thiện với môi trường. Bên cạnh đó, quan điểm phát triển xanh cũng được đề cập rõ nét trong các lĩnh vực như y tế, giáo dục, các hoạt động sản xuất, tiêu dùng. Đó là ưu tiên sử dụng các sản phẩm xanh nhằm từng bước và hạn chế những tác động tiêu cực của phát triển kinh tế tới môi trường... hướng tới mục tiêu để Hòa Bình trở thành vùng đất trong lành, thân thiện, đáng sống trong tương lai.

                                                                           
 Lê Chung

Các tin khác


Mô hình hoạt động nào phù hợp đối với chi bộ đông đảng viên?: Bài 2 - Nhiều khó khăn phát sinh đối với chi bộ đông đảng viên

(HBĐT) - Hoà Bình là tỉnh miền núi, dân cư sống thưa thớt, sau sáp nhập xóm, tổ dân phố, nhiều xóm, khu dân cư mới có diện tích rộng, đảng viên (ĐV) đông lại sống rải rác gây không ít khó khăn trong công tác quản lý ĐV. Ngoài ra, vì ĐV quá đông, cơ sở vật chất các nhà văn hóa khu dân cư chật hẹp ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sinh hoạt chi bộ. Vấn đề xếp loại chất lượng sinh hoạt và đánh giá, xếp loại chi bộ hàng năm ở những chi bộ đông ĐV cũng bộc lộ nhiều bất cập.

Mô hình hoạt động nào phù hợp đối với chi bộ đông đảng viên?: Bài 1 - Chi bộ đông đảng viên - mỗi chi bộ một mô hình vận hành

(HBĐT) - Thực hiện việc sáp nhập, kiện toàn xóm, tổ dân phố và sắp xếp, tinh gọn bộ máy các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp trên địa bàn tỉnh, số chi bộ đảng trực thuộc đảng ủy cơ sở, đảng bộ bộ phận giảm khá nhiều. Tuy nhiên, số lượng đảng viên (ĐV) tại các chi bộ mới sáp nhập, kiện toàn lại tăng lên gấp đôi, thậm chí gấp 3, hình thành các chi bộ có số ĐV rất đông. Theo số liệu thống kê của Ban Tổ chức Tỉnh ủy, tính đến ngày 15/7/2022, toàn tỉnh có 3.181 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở, đảng bộ bộ phận. Trong đó, 138 chi bộ có từ 50 - 100 ĐV (136 chi bộ khu dân cư, 2 chi bộ ở đơn vị sự nghiệp). Đặc biệt, có 3 chi bộ khu dân cư có trên 100 ĐV. Công tác vận hành, tổ chức sinh hoạt chi bộ, triển khai công việc ở các chi bộ có số ĐV đông đang đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm. 

Bài 5 - Gìn giữ, phát huy những "báu vật" của cha ông

(HBĐT) - Trong kho tàng di sản văn hoá (DSVH) dân tộc Mường, nếu mo Mường được xem là một sáng tạo vĩ đại thì chiêng Mường chính là báu vật của người Mường. Chiêng Mường cùng với sáo ôi, đàn nhị, trống da trâu... đã tạo nên âm nhạc Mường với những nét độc đáo, uyển chuyển và duyên dáng. Ngày nay, nghệ thuật chiêng Mường và âm nhạc dân tộc Mường được bảo tồn, phát huy tạo nên những giá trị tinh thần nhân văn cao đẹp trong cộng đồng người Mường, đồng thời làm phong phú, đa dạng thêm cho nền âm nhạc dân gian Việt Nam. Thành tựu đó có được trước hết là nhờ những nghệ nhân xứ Mường đã dành cả cuộc đời gìn giữ, phát huy những "báu vật” của ông cha để lại.

Bài 4 - Nâng niu lời ru đất Mường

(HBĐT) - Dân ca là một loại hình văn nghệ quen thuộc và gắn bó mật thiết với đời sống sinh hoạt, lao động, sản xuất hàng ngày của Nhân dân các dân tộc. Lời ca ngọt ngào, sâu lắng, gần gũi đã nuôi dưỡng tâm hồn của biết bao thế hệ. Bằng tâm huyết và niềm đam mê, các nghệ nhân hát dân ca của tỉnh đang ra sức bảo tồn, gìn giữ, phát huy giá trị của những làn điệu dân ca, lan tỏa mạnh mẽ trong cuộc sống đương đại, để nét văn hóa truyền thống của dân tộc sống mãi với thời gian.

Bài 3 - Những người giữ hồn cho dân tộc

(HBĐT) - Tiếng nói, chữ viết là công cụ tư duy và là phương tiện giao tiếp để thể hiện, lưu giữ, truyền bá tri thức phản ánh bản sắc của cá nhân và cộng đồng. Đây còn là hồn cốt của mỗi dân tộc. Việc bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết các dân tộc thiểu số (DTTS) là cấp thiết để giữ gìn bản sắc văn hóa, thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Công tác bảo tồn, phát huy tiếng nói, chữ viết của các DTTS là một trong những chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước.

Bài 2 - Nghệ nhân mo Mường và tâm huyết trao truyền di sản

(HBĐT) - "Từ khi được Nhà nước phong tặng danh hiệu "Nghệ nhân ưu tú”, tôi ý thức sâu sắc rằng vinh dự này phải gắn liền với trách nhiệm. Trách nhiệm của nghệ nhân mo Mường (NNMM) chúng tôi là phải phát huy giá trị của di sản bằng cách gìn giữ và trao truyền cho thế hệ sau. Chỉ khi hoàn thành xong tâm huyết trao truyền di sản, nghệ nhân chúng tôi mới yên lòng về với Mường Ma…” - nghệ nhân Bùi Văn Lựng, xóm Mường Lầm, xã Phong Phú (Tân Lạc) trải lòng.

Xem các tin đã đưa ngày:
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục